28 ngân hàng lãi 107.000 tỷ đồng trong quý III, nợ xấu hình thành ròng cao nhất kể từ 2022
28 ngân hàng lãi gần 313.000 tỷ đồng sau 9 tháng
Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) thống kê từ báo cáo tài chính các ngân hàng niêm yết cho thấy trong quý III/2026, tổng thu nhập hoạt động 28 ngân hàng đạt hơn 224.000 tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ năm ngoái và tăng 2% so với quý II. Tổng lợi nhuận trước thuế đạt gần 107.000 tỷ đồng, tăng 21% so với cùng kỳ và giảm 4% so với quý liền trước.
Lũy kế 9 tháng, tổng thu nhập hoạt động tại 28 ngân hàng đạt hơn 635.000 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ. Tổng lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt gần 313.000 tỷ đồng, tăng 20% và hoàn thành khoảng 74% kế hoạch lợi nhuận toàn ngành.
Ảnh: VDSC
Động lực chính cho tăng trưởng của doanh thu và lợi nhuận 9 tháng đến từ đà tăng trưởng tín dụng vững chắc (tín dụng toàn ngành tăng 11,6%, riêng nhóm ngân hàng niêm yết tăng 12,6%) tạo bệ đỡ vững chắc cho thu nhập lãi thuần tăng 18%.
Ở mảng thu ngoài lãi, thu nhập thuần từ hoạt động dịch vụ 9 tháng đạt gần 79.500 tỷ đồng, tăng 64%. Thu nhập khác đạt hơn 43.600 tỷ đồng, tăng 8%, dù nếu tính riêng quý III thì giảm 16% so với cùng kỳ do thiếu đi các khoản thu nhập một lần như quý trước (từ Vietcombank và HDBank).
Ngoài ra, tỷ lệ chi phí hoạt động/doanh thu (CIR) lũy kế 12 tháng tới quý III/2026 đã giảm xuống 30,8%, từ mức 32,3% của cả năm 2025.
Mặt khác, tăng trưởng lợi nhuận 9 tháng tiếp tục phân hóa khi động lực tăng chủ yếu tập trung tại các nhóm quy mô lớn. Lợi nhuận trước thuế 9 tháng của nhóm quốc doanh ghi nhận tăng 27% so với cùng kỳ và nhóm ngân hàng TMCP quy mô lớn tăng 17%, trong khi nhóm quy mô trung bình chỉ tăng 3%. Nhóm quy mô nhỏ ghi nhận lãi tăng 50% nhưng chủ yếu đến từ nền so sánh thấp của cùng kỳ.
Một số ngân hàng ghi nhận lợi nhuận 9 tháng tăng trưởng tích cực như VPBank (+47% so với cùng kỳ), VietinBank (+34%), MB (+32%), BIDV (+25%), HDBank (+24%), Techcombank (+24%) và Vietcombank (+22%).
Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng ghi nhận lợi nhuận 9 tháng giảm mạnh như Eximbank (-58%), Sacombank (-46%), SeABank (-42%).
65.500 tỷ đồng nợ xấu hình thành ròng trong quý III, cao nhất kể từ 2022
Trong khi lợi nhuận tăng trưởng tích cực, một điểm đáng chú ý khác trong bức tranh kết quả kinh doanh toàn ngành quý III mà VDSC chỉ ra là nợ xấu hình thành ròng tiếp tục ở mức cao.
Tại cuối quý III/2026, tổng nợ xấu nội bảng toàn ngành đã tăng lên khoảng 340.800 tỷ đồng, tức tăng 8% so với cuối quý II. Mức tăng chủ yếu đến từ nợ nhóm 3 (+53% so với quý II lên gần 102.000 tỷ đồng), trong khi nợ nhóm 5 giảm 7% so với quý trước nhờ các ngân hàng đẩy mạnh xử lý rủi ro (hơn 40.000 tỷ đồng trong quý, tăng 22% so với quý II).
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay khách hàng toàn ngành tại cuối quý III ở mức 2,11%, tăng 0,09 điểm % so với quý liền trước.
Nợ xấu hình thành ròng trong riêng quý III/2026 ước tính ở mức 65.500 tỷ đồng, tăng mạnh so với mức gần 55.000 tỷ đồng của quý II. Đây cũng là mức nợ xấu hình thành ròng cao nhất kể từ 2022 đến nay, theo VDSC.
Diễn biến nợ xấu phát sinh mới trong quý chủ yếu tập trung tại một số ngân hàng như Sacombank (19.000 tỷ đồng), BIDV (6.200 tỷ đồng), HDBank (6.200 tỷ đồng - riêng lẻ), MB (6.100 tỷ đồng - riêng lẻ), VPBank (5.600 tỷ đồng - riêng lẻ) và VIB (3.000 tỷ đồng - riêng lẻ) - chiếm khoảng 70% nợ xấu hình thành ròng toàn ngành. Ngược lại, Eximbank, NCB và BVBank ghi nhận nợ xấu hình thành ròng âm.
Cùng đó, quy mô nợ nhóm 2 cũng tăng 18% so với quý liền trước lên hơn 253.000 tỷ đồng, cao nhất kể từ quý II/2023, đưa tỷ lệ nợ nhóm 2 tại cuối quý III lên 1,57% (từ mức 1,37% của quý II).
Ảnh: VDSC
VDSC nhận định mặt bằng lãi suất cho vay tăng nhanh trong ba quý gần nhất (lợi suất tài sản sinh lãi tăng khoảng 1,25 điểm % so với cuối 2025) vẫn đang tác động rõ nét hơn lên khả năng trả nợ của khách hàng vay.
Trong khi đó, bộ đệm dự phòng tiếp tục mỏng đi dù chi phí dự phòng đã tăng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) toàn ngành tính đến hết quý III đã giảm xuống 74,2% từ mức 78,4% cuối quý II.
Nhóm phân tích cho rằng áp lực trích lập dự phòng sẽ tiếp tục gia tăng trong quý cuối năm, quý các ngân hàng thường đẩy mạnh xử lý nợ cuối năm. Đây cũng sẽ là rủi ro chính đối với tăng trưởng lợi nhuận của ngành trong quý tới, đặc biệt tại nhóm ngân hàng có tỷ lệ LLR dưới 60%.