Áp lực tăng lãi suất vẫn còn hiện hữu tại một số ngân hàng

Diên Vỹ 08:16 | 04/07/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
MBS Research cho rằng áp lực tăng lãi suất vẫn còn hiện hữu tại một số ngân hàng trong bối cảnh tín dụng tiếp tục duy trì tốc độ tăng nhanh, cao gấp gần 1,5 lần so với tốc độ huy động vốn. Điều này khiến nhu cầu cạnh tranh nguồn vốn đầu vào chưa thực sự hạ nhiệt.

Lãi suất huy động hạ nhiệt, nhưng vẫn ở vùng cao 

 Trên thị trường liên ngân hàng, sau 2 tháng liên tiếp bơm ròng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã quay trở lại hút ròng hệ thống trong tháng 6.

Trong kỳ, NHNN bơm hơn 214.000 tỷ đồng qua kênh thị trường mở OMO, kỳ hạn 7 - 56 ngày và lãi suất 4,5%. Trong khi đó, lượng OMO đáo hạn đạt hơn 300.900 tỷ đồng. Theo đó, NHNN đã hút ròng hơn 86.900 tỷ đồng trong kỳ, đưa lượng OMO lưu hành trong hệ thống về mức hơn 245.400 tỷ đồng (-50% so với mức đỉnh thiết lập vào đầu tháng 2).  

MBS đánh giá dù NHNN chuyển sang hút ròng, lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì đà giảm khá ổn định trong tháng. Cụ thể, lãi suất qua đêm từ mức 10,1% ở đầu tháng đã giảm mạnh về 2,85% vào ngày 26/6 - mức thấp nhất trong 4 tháng trở lại đây.

Đến cuối tháng, lãi suất qua đêm quay đầu tăng trở lại lên mức 7,25% do yếu tố mùa vụ khi áp lực thanh khoản thường tăng vào thời điểm tháng cuối quý - thời điểm các doanh nghiệp có xu hướng gia tăng các khoản thanh toán nhằm phục vụ cho việc chuẩn bị BCTC. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần đến cuối tháng ở mức 8,35%; trong khi lãi suất các kỳ hạn 1 tháng - 6 tháng ở mức 7,9%.  

Còn tại thị trường dân cư, đà tăng của lãi suất huy động đã có dấu hiệu chững lại trong tháng 6. Khác với các tháng trước khi xu hướng tăng diễn ra trên diện rộng, trong tháng 6, việc điều chỉnh tăng lãi suất chủ yếu xuất hiện tại nhóm ngân hàng thương mại quy mô vừa.

Trong số 16 ngân hàng được MBS theo dõi, có 6 ngân hàng tăng lãi suất huy động, giảm so với con số 9 ngân hàng trong tháng trước. Mức điều chỉnh phổ biến từ 0,1-0,5 điểm % đối với các kỳ hạn từ 6-24 tháng. Ở chiều ngược lại, đã có 4 ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất huy động từ 0,1-0,2 điểm % ở cùng nhóm kỳ hạn.

Theo đó, đến cuối tháng 6, lãi suất huy động cao nhất đối với các kỳ hạn dưới 12 tháng đạt 8,8%/năm. Còn lãi suất huy động bình quân hệ thống với kỳ hạn 12 tháng đạt khoảng 8,4%/năm vào cuối tháng 6, tăng 259 điểm cơ bản so với đầu năm. LPBank là nhà băng có mức lãi suất huy động cao nhất với kỳ hạn 12 tháng, đạt 9%/năm.  

 Ảnh: MBS

Theo MBS Research, dù nhiều ngân hàng đã bắt đầu điều chỉnh giảm lãi suất kể từ đầu quý II, mặt bằng lãi suất huy động vẫn duy trì ở mức cao do hai nguyên nhân. Thứ nhất, lãi suất đã tăng tương đối mạnh trong quý I nên mặt bằng hiện nay vẫn neo ở vùng cao. Thứ hai, áp lực tăng lãi suất vẫn còn hiện hữu tại một số ngân hàng trong bối cảnh tín dụng tiếp tục duy trì tốc độ tăng nhanh, cao gấp gần 1,5 lần so với tốc độ huy động vốn. Điều này khiến nhu cầu cạnh tranh nguồn vốn đầu vào chưa thực sự hạ nhiệt.

Áp lực tỷ giá trở lại

Trong tháng 6, chỉ số đo lường sức mạnh đồng USD phục hồi mạnh trên thị trường quốc tế khi kỳ vọng về khả năng Cục Dự trữ liên bang (FED) tiếp tục nâng lãi suất gia tăng.

Theo MBS, từ mức 98,9 điểm vào cuối tháng 5, chỉ số DXY duy trì xu hướng tăng khá ổn định và đạt 101,61 điểm vào ngày 24/6, mức cao nhất trong vòng một năm trở lại đây. Đến cuối tháng, DXY giảm nhẹ xuống 101,19 điểm nhưng vẫn tăng 2,3% so với cuối tháng trước và cao hơn 3% so với đầu năm. 

Động lực chính của đà tăng này đến từ áp lực lạm phát tại Mỹ khi giá dầu tăng mạnh đẩy chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 4/2023. Trong khi đó, CPI tháng 5 cũng tăng 4,2%, cao nhất kể từ năm 2023. Trước diễn biến này, Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất điều hành trong vùng 3,5-3,75%. Tuy nhiên, biểu đồ Dot Plot đã bắt đầu phản ánh khả năng lãi suất sẽ tiếp tục tăng.

Theo dự báo của các quan chức FED, lãi suất quỹ liên bang vào cuối năm 2026 được kỳ vọng ở mức trung vị 3,8%, cao hơn mức 3,6% hiện nay. Điều này hàm ý Fed có thể cần ít nhất một đợt tăng lãi suất trong năm nay. Theo công cụ FedWatch của CME, thị trường hiện định giá khoảng 50% khả năng FED sẽ tăng thêm 25 điểm cơ bản tại cuộc họp tháng 9.

Diễn biến của đồng USD đã nhanh chóng tạo áp lực lên thị trường ngoại hối trong nước. Theo đó, sau hai tháng tương đối ổn định, tỷ giá USD/VND bắt đầu rục rịch tăng trở lại. Tỷ giá trung tâm tăng 0,3% tại cuối tháng 6 so với cuối tháng trước, lên mức 25.206 VND/USD, cũng là mức tăng theo tháng lớn nhất kể từ đầu năm và cao hơn 0,3% so với đầu năm. Tỷ giá trên thị trường tự do tăng 1,1% lên 26.710 VND/USD, dù vẫn thấp hơn 0,8% so với đầu năm.

Trong khi đó, tỷ giá liên ngân hàng gần như đi ngang nhờ đồng VND tiếp tục được hỗ trợ bởi mặt bằng lãi suất cao trong nước. Tỷ giá dao động trong biên độ hẹp 26.290-26.343 VND/USD và kết thúc tháng ở mức 26.310 VND/USD, giảm nhẹ 0,01% so với cuối tháng 5 và tăng 0,15% so với đầu năm.

   Ảnh: MBS 

Các chuyên gia đánh giá áp lực đối với tỷ giá vẫn còn hiện hữu trong những tháng tới do nhiều yếu tố.

Thứ nhất, đồng USD được dự báo tiếp tục duy trì sức mạnh nhờ lập trường thận trọng của FED, đặc biệt là kỳ vọng FED sẽ bắt đầu nâng lãi suất ngay từ tháng 9.

Thứ hai, thặng dư thương mại được dự báo sẽ thu hẹp khi nhập khẩu vẫn tăng nhanh hơn xuất khẩu nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất. Dù kim ngạch xuất khẩu được kỳ vọng cải thiện từ cuối quý II khi bước vào mùa cao điểm, mức cải thiện của cán cân thương mại nhiều khả năng chỉ ở mức khiêm tốn. Đặc biệt, trong ngắn hạn, chi phí vận chuyển vẫn cao hơn cùng kỳ, trong khi đồng USD mạnh lên và VND có xu hướng giảm giá sẽ làm gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.

Ở chiều ngược lại, vẫn có những yếu tố hỗ trợ quan trọng với tỷ giá, bao gồm mặt bằng lãi suất trong nước duy trì ở mức cao và dòng vốn FDI tiếp tục tích cực.

Theo đó, MBS dự báo tỷ giá USD/VND đến cuối năm 2026 sẽ dao động trong khoảng 26.800-27.000 VND/USD, tương ứng mức tăng khoảng 2-2,8% so với đầu năm.