Giá dầu tăng, cổ phiếu dầu khí phân hóa: Công ty chứng khoán chọn PVS, GAS, BSR và PVT

Thơ Hoàng 11:40 | 09/10/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Theo Chứng khoán Vietcap, giá dầu duy trì ở mức cao mang lại lợi thế cho một số doanh nghiệp lọc hóa dầu, vận tải dầu khí, trong khi tác động đến các doanh nghiệp dịch vụ dầu khí và điện khí có sự phân hóa. Trong bối cảnh đó, PVS, GAS, BSR và PVT được đánh giá là những cổ phiếu đáng chú ý.

Chia sẻ tại Webinar với chủ đề “Toàn cảnh thị trường Dầu khí – Năng lượng trước biến động Trung Đông”, bà Đinh Thị Thùy Dương, Phó Giám đốc Phòng Nghiên cứu và Phân tích Vietcap, cho biết diễn biến giá dầu đang tạo ra những tác động khác nhau đối với từng nhóm doanh nghiệp trong ngành dầu khí.

Theo đó, BSR và PVT có thể hưởng lợi trực tiếp hơn khi giá dầu tăng, nhờ triển vọng cải thiện biên lợi nhuận lọc hóa dầu và giá cước vận tải. Trong khi đó, PVS và PVD được đánh giá tương đối trung lập trong ngắn hạn, nhưng triển vọng dài hạn vẫn tích cực.

Đối với nhóm phân bón, DPM và DCM được đánh giá ở mức trung lập khi giá nguyên liệu đầu vào tăng có xu hướng song hành với giá urê đầu ra. Tương tự, PLX và OIL ít chịu tác động đáng kể từ biến động giá dầu do giá bán các sản phẩm xăng dầu có xu hướng điều chỉnh theo giá nguyên liệu.

Ở chiều ngược lại, PLC, đặc biệt là mảng nhựa đường, cùng các doanh nghiệp vận hành nhà máy điện khí có thể chịu ảnh hưởng tiêu cực nhẹ khi giá dầu tăng, do chi phí đầu vào gia tăng gây áp lực lên biên lợi nhuận.

Trong bối cảnh tác động phân hóa giữa các nhóm doanh nghiệp, Vietcap lựa chọn PVS, GAS, BSR và PVT là bốn cổ phiếu dầu khí đáng chú ý.

 Đánh giá tác động của diễn biến thị trường đến các nhóm cổ phiếu dầu khí và phân bón. Nguồn Vietcap 

Trong đó, PVS được đánh giá có dư địa tăng trưởng khi thị giá hiện tại chưa phản ánh đầy đủ giá trị doanh nghiệp. Một trong những động lực đáng chú ý của PVS là việc trúng thầu dự án tại Qatar với tổng giá trị khoảng 3 tỷ USD. Theo Vietcap, quy mô hợp đồng này cao gấp 5–6 lần giá trị bình quân mỗi hợp đồng mà doanh nghiệp từng đạt được trong 20 năm qua.

Dự án được kỳ vọng đóng góp khoảng 10% lợi nhuận của PVS trong giai đoạn 2027–2030, qua đó mở ra dư địa tăng trưởng trong dài hạn. Đây cũng là cơ sở để Vietcap duy trì đánh giá tích cực đối với triển vọng của doanh nghiệp, bất chấp những biến động có thể xảy ra trong ngắn hạn.

PVT dẫn đầu về tín hiệu kỹ thuật

Xét về phân tích kỹ thuật, ông Vũ Minh Đức, Phó Giám đốc Phòng Nghiên cứu và Phân tích Vietcap, PVT, BSR và PVS là những cổ phiếu có tín hiệu kỹ thuật tích cực khi đang giao dịch trên đường MA200. Trong đó, PVT nổi bật nhất về sức mạnh xu hướng, tiếp đến là BSR và PVS.

PVT đang có tín hiệu kỹ thuật mạnh nhất nhóm dầu khí, khi duy trì xu hướng tăng và duy trì dòng tiền tương đối ổn định. Diễn biến hiện tại cho thấy PVT đang hướng tới vùng đỉnh thiết lập hồi tháng 3/2026, quanh 28.000 đồng/cổ phiếu.

Xếp sau PVT là BSR, cổ phiếu hiện tích lũy trong vùng 30.000-32.000 đồng/cổ phiếu. Theo đánh giá kỹ thuật, đây có thể là giai đoạn tái tích lũy trong xu hướng tăng. Nếu duy trì được trạng thái tích cực, BSR có khả năng mở rộng dư địa tăng giá trong thời gian tới.

Đối với PVS ghi nhận diễn biến tích lũy tích cực cùng thanh khoản mua cải thiện, cho thấy dòng tiền đang có dấu hiệu ủng hộ xu hướng tăng. Vietcap kỳ vọng cổ phiếu có thể hướng tới vùng giá 36.500 đồng/cổ phiếu trong một vài tuần tới.

 Đánh giá về tín hiệu kỹ thuật các cổ phiếu doanh nghiệp dầu khí. Nguồn Vietcap 

Ở nhóm cổ phiếu chưa xác lập xu hướng rõ ràng, PVD, GAS và OIL vẫn đang giằng co quanh đường MA200. Các mã này chưa phát đi tín hiệu đủ mạnh để xác nhận xu hướng tăng trung hạn, đồng thời chưa cho thấy sự bứt phá rõ rệt khỏi vùng dao động hiện tại.

Trong khi đó, DCM, DPM và PLX đang trong giai đoạn kiểm định vùng kháng cự trung hạn. Các cổ phiếu này liên tục xuất hiện những nhịp tăng nhằm thử thách vùng cản, đi kèm thanh khoản tương đối tích cực. Theo ông Vũ Minh Đức, nếu vượt qua đường MA200 một cách thuyết phục, các mã này có thể bước vào nhịp tăng trung hạn, qua đó cải thiện triển vọng kỹ thuật.

Ngược lại, PLC vẫn nằm trong xu hướng giảm ở cả ngắn hạn và trung hạn, cho thấy diễn biến giá yếu hơn so với nhiều cổ phiếu khác trong nhóm dầu khí. Đây là mã cần thêm tín hiệu đảo chiều rõ ràng trước khi có thể kỳ vọng xu hướng phục hồi bền vững.

PVT, BSR, GAS tăng trưởng mạnh

Theo dự báo của Vietcap, kết quả kinh doanh quý III và 9 tháng năm 2026 của các doanh nghiệp dầu khí có sự phân hóa rõ nét. PVT và BSR nổi bật với mức tăng trưởng lợi nhuận cao nhờ giá thuê tàu, crack spread và sản lượng tiêu thụ thuận lợi. Trong khi đó, GAS được hỗ trợ bởi các khoản hoàn nhập dự phòng, còn kết quả của nhóm phân bón chịu áp lực từ chi phí khí đầu vào gia tăng.

Theo bà Đinh Thị Thùy Dương, Vietcap dự báo PVT ghi nhận lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số (LNST sau lợi ích CĐTS) báo cáo trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 1.300 tỷ đồng, tăng 69% so với cùng kỳ năm trước (YoY). Riêng quý III, lợi nhuận dự kiến đạt 437 tỷ đồng, tăng 64%.

Trong khi đó, BSR được dự báo đạt 23.000 tỷ đồng LNST sau lợi ích CĐTS trong 9 tháng đầu năm, gấp 10,7 lần YoY Riêng quý III, lợi nhuận ước đạt 7.100 tỷ đồng, gấp 7,8 lần YoY. Kết quả tích cực chủ yếu nhờ crack spread duy trì ở mức cao và sản lượng tiêu thụ cải thiện.

Đối với GAS, Vietcap dự báo LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 13.300 tỷ đồng, tăng 32% YoY và tương đương 102% dự báo lợi nhuận cả năm của đơn vị này. Riêng quý III, lợi nhuận dự kiến đạt 4.500 tỷ đồng, tăng 76% YoY, trong đó khoản hoàn nhập dự phòng ước khoảng 1.800 tỷ đồng.

Với PVS, LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo trong 9 tháng đầu năm dự kiến đạt 1.200 tỷ đồng, tăng 23% YoY. Động lực chủ yếu đến từ khoản thu nhập bất thường ghi nhận trong 6 tháng đầu năm, liên quan đến tiền bồi thường do hủy hợp đồng EPC 35 chân đế thuộc dự án điện gió ngoài khơi Formosa tại Đài Loan.

Tuy nhiên, riêng quý III/2026, lợi nhuận của PVS được dự báo đạt 302 tỷ đồng, giảm 6% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là lợi nhuận từ các công ty liên doanh, liên kết giảm so với mức nền cao của quý III năm trước, khi doanh nghiệp ghi nhận khoản thu nhập liên quan đến việc hoàn cải FSO Lạc Đà Vàng.

Ngoài ra, Vietcap dự báo PVD dự phóng LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 698 tỷ đồng, tăng 4% YoY. Riêng quý III, lợi nhuận đạt khoảng 229 tỷ đồng, giảm 18% YoY nhưng tăng 40% so với quý trước.

Đối với nhóm phân bón, DCM được Vietcap dự báo đạt 2.100 tỷ đồng LNST sau lợi ích CĐTS trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng 40% YoY. Động lực tăng trưởng đến từ sản lượng tiêu thụ urê tăng 17% và giá bán bình quân tăng 19%. Trong cùng kỳ, giá urê Trung Đông bình quân đạt 542 USD/tấn, tăng 26%.

Tuy nhiên, lợi nhuận quý III của DCM dự kiến đạt 285 tỷ đồng, giảm 13% YoY. Nguyên nhân chủ yếu là giá khí đầu vào tăng 35%, gây áp lực lên biên lợi nhuận. Tác động này được bù đắp một phần nhờ sản lượng tiêu thụ urê tăng 55%, trong đó sản lượng tiêu thụ nội địa tăng mạnh 174%, cùng giá bán bình quân tăng 8%.

Tương tự, DPM được dự báo ghi nhận 1.500 tỷ đồng LNST sau lợi ích CĐTS trong 9 tháng đầu năm, tăng 79% YoY. LNST sau lợi ích CĐTS quý III của DPM dự kiến đạt 207 tỷ đồng, giảm 13% YoY.

Ở nhóm phân phối xăng dầu, PLX được dự báo đạt 2.800 tỷ đồng LNST sau lợi ích CĐTS trong 9 tháng đầu năm. Kết quả kinh doanh được hỗ trợ bởi sản lượng tiêu thụ tăng 16% và giá dầu Brent tăng 27% YoY.

Riêng quý III, lợi nhuận PLX dự kiến đạt 756 tỷ đồng, tăng 24% YoY. Động lực đến từ sản lượng tiêu thụ tăng 22% và biên lợi nhuận kinh doanh xăng dầu cải thiện.

Trong khi đó, OIL được dự báo ghi nhận 651 tỷ đồng LNST sau lợi ích CĐTS trong 9 tháng đầu năm, tăng 97% YoY. Riêng quý III, lợi nhuận OIL dự kiến đạt 271 tỷ đồng, gấp 2,2 lần YoY. Kết quả được hỗ trợ bởi sản lượng tiêu thụ tăng 13% và biên lợi nhuận kinh doanh xăng dầu cải thiện.

Đối với PLC, Vietcap dự báo LNST sau lợi ích CĐTS báo cáo trong 9 tháng đầu năm 2026 đạt 234 tỷ đồng, gấp 2,4 lần YoY. Riêng quý III/2026, lợi nhuận PLC dự kiến đạt 40 tỷ đồng, tăng 27% YoY. Kết quả tích cực từ hai mảng nhựa đường và dầu nhờn được kỳ vọng bù đắp cho diễn biến kém khả quan của mảng hóa chất.