Giải cứu đồng Yen [Kỳ 2]: Toan tính sâu xa của Mỹ khi xuống tiền

Đức Quyền 11:28 | 04/08/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Lần đầu sau 28 năm, Bộ Tài chính Mỹ trực tiếp mua vào đồng Yên mà không bán ra một đồng USD nào. Nghiệp vụ bán chéo đồng Euro giúp Washington vừa đỡ tỷ giá cho đồng minh phương Đông, vừa giữ nguyên sức mạnh đồng bạc xanh và đứng phía sau lựa chọn kỹ thuật ấy là thị trường trái phiếu Kho bạc Mỹ.

 

Lần đầu Washington mua Yên sau 28 năm

Cuối tháng 7/2026, Cục Dự trữ Liên bang (Fed) khu vực New York thay mặt Bộ Tài chính Mỹ đặt các lệnh mua đồng Yên khối lượng lớn, chấm dứt 28 năm Washington đứng ngoài mọi biến động của đồng tiền Nhật Bản kể từ khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998. Đợt can thiệp diễn ra khi tỷ giá đã rơi xuống đáy 40 năm, giao dịch quanh 164,5 JPY/USD, mức đủ để đe dọa cấu trúc giá hàng hóa giữa hai bờ Thái Bình Dương.

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent trước đó công khai nhận định đồng Yên đang bị định giá rất rẻ so với giá trị thực của nền kinh tế Nhật Bản, còn một cựu quan chức Bộ Tài chính Nhật Bản ước tính mức hợp lý phải nằm quanh 130 JPY/USD.

Phát biểu đưa ra ngay trước cuộc họp chính sách của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) là bước dọn đường cho can thiệp, khi giới chức Mỹ vừa xác nhận có sai lệch định giá, vừa gửi cảnh báo tới các vị thế bán khống Yên.

Thay vì bán USD từ dự trữ quốc gia, Fed New York dùng Quỹ Ổn định Tỷ giá (ESF) bán đồng Euro để mua Yên, đặt lệnh qua các định chế trung gian như Goldman Sachs và Morgan Stanley. Cách làm này cho phép Mỹ đỡ tỷ giá giúp đối tác mà không tự tay làm yếu đồng bạc xanh.

Bán Euro để mua Yên như thế nào?

Can thiệp ngoại hối chéo dựa trên sự liên thông giá giữa ba cặp EUR/USD, EUR/JPY và USD/JPY. Khi Fed New York tung lệnh bán Euro mua Yên, cung Euro tăng mạnh còn cầu Yên dâng cao, kéo EUR/JPY giảm 5,56%, từ 179,30 xuống 169,33 chỉ trong thời gian ngắn.

Can thiệp ngoại hối chéo dựa trên sự liên thông giá giữa ba cặp EUR/USD, EUR/JPY và USD/JPY. Khi Fed New York tung lệnh bán Euro mua Yên, cung Euro tăng mạnh còn cầu Yên dâng cao, kéo EUR/JPY giảm 5,56%, từ 179,30 xuống 169,33 chỉ trong thời gian ngắn.

Cùng lúc đó, lượng Euro dư thừa làm đồng tiền này mất giá so với USD, đẩy EUR/USD giảm 2,29%, từ 1,09 xuống 1,065. Hai cặp tỷ giá cùng đi xuống tạo ra độ lệch định giá đủ lớn để các thuật toán giao dịch tần suất cao tự động bán USD và mua JPY nhằm cân bằng trạng thái danh mục. Chính hoạt động chốt lời chênh lệch giá đó đẩy USD/JPY giảm 3,34%, từ 164,5 về 159 vào cuối phiên, tức đồng Yên mạnh lên mà Mỹ không phải bán ra một đồng USD dự trữ nào.

Nhờ vậy, Bộ trưởng Tài chính Bessent giữ được tuyên bố nhất quán về “chính sách đồng USD mạnh” và vẫn phủ nhận việc Mỹ can thiệp trực tiếp hỗ trợ đồng Yên, trong khi thị trường vẫn nhận đủ lực mua Yên cần thiết.

Ông Robert Kaplan, Phó Chủ tịch Goldman Sachs và cựu Chủ tịch Fed Dallas, cho rằng với gánh nặng nợ hiện nay, sự ổn định của đồng USD quan trọng hơn cả mục tiêu hỗ trợ xuất khẩu, bởi mọi sự sụt giảm của đồng bạc xanh đều lập tức phản ánh vào chi phí vay của Kho bạc Mỹ.

Giới phân tích của ngân hàng này đánh giá tránh bán USD trực tiếp giúp giữ lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ ổn định, qua đó chặn trước kịch bản dòng vốn rút khỏi thị trường nợ quốc gia.

Ở phía Nhật Bản, muốn có USD để mua Yên, Tokyo phải bán bớt trái phiếu Kho bạc Mỹ, và Nhật Bản đang là chủ nợ nước ngoài lớn nhất của Mỹ với hơn 1.100 tỷ USD. Mỗi đợt bán như vậy đẩy thêm cung ra thị trường trái phiếu Mỹ và kéo lợi suất lên, tức làm đắt thêm chi phí vay của chính Washington. Vì thế, đỡ tỷ giá giúp Tokyo bằng đồng Euro cũng là cách Mỹ giữ cho chủ nợ lớn nhất của mình khỏi phải bán tài sản Mỹ.

 

Phá giá đồng Yên không kích thích xuất khẩu của Nhật Bản

Theo lý thuyết kinh tế thông thường, đồng Yên yếu đi phải làm tăng thâm hụt của Mỹ với Nhật Bản, nhưng thực tế lại trái ngược.

Số liệu của Cục Thống kê Mỹ cho thấy thâm hụt thương mại hàng hóa với Nhật Bản thu hẹp ba năm liền, từ 71,4 tỷ USD năm 2023 xuống 68,3 tỷ USD năm 2024 rồi 64,4 tỷ USD năm 2025. Cộng thêm mảng dịch vụ mà Mỹ đang thặng dư, thâm hụt cán cân thương mại tổng thể giảm từ 56,8 tỷ USD xuống 45,1 tỷ USD.

Mức thu hẹp đó diễn ra đúng lúc đồng Yên yếu nhất. Tỷ giá bình quân đi từ 131,46 JPY/USD năm 2022 lên 151,46 JPY/USD năm 2024, tức đồng Yên mất giá thêm 15,2%, nhưng kim ngạch Mỹ nhập từ Nhật Bản gần như đứng yên quanh 147 tỷ USD rồi lùi về 145,8 tỷ USD năm 2025.

 

Nguyên nhân nằm ở cách các tập đoàn Nhật Bản ứng xử với tỷ giá. Các doanh nghiệp này giữ nguyên giá niêm yết bằng USD tại thị trường Mỹ và bỏ túi phần chênh lệch khi quy về nội tệ, thay vì hạ giá để giành thị phần. Song song, phần lớn xe Nhật bán tại Mỹ nay được lắp ráp ngay ở Kentucky, Ohio hoặc Mexico, nên không đi qua hải quan và không chịu tác động của tỷ giá.

Cấu trúc kiếm tiền của Nhật Bản vì thế đã dịch chuyển và không còn phụ thuộc vào xuất khẩu ròng. Năm 2025, thặng dư cán cân vãng lai của nước này đạt 215,8 tỷ USD, nhưng riêng thu nhập sơ cấp, tức cổ tức và lãi từ khối tài sản ở nước ngoài, đã lên tới 278,2 tỷ USD, gấp 1,3 lần tổng thặng dư. Khoản thu này tăng 40,8% so với năm 2021, đúng giai đoạn đồng Yên mất giá mạnh nhất.

Đồng Yên yếu làm phình khoản cổ tức chuyển về Tokyo chứ không đẩy thêm hàng hóa qua biên giới, nên đợt can thiệp năm 2026 của Mỹ không hẳn là một hành động phòng vệ thương mại như năm 1985.

Di sản của Thỏa ước Plaza năm 1985

Hành vi giữ giá và dời nhà máy của doanh nghiệp Nhật Bản bắt nguồn từ một cú sốc 4 thập niên trước. Đầu những năm 1980, chính sách thắt chặt tiền tệ quyết liệt của Chủ tịch Fed Paul Volcker đẩy lãi suất Mỹ lên mức cao kỷ lục, hút dòng vốn toàn cầu và làm đồng USD tăng giá hơn 50% trong 5 năm.

Đồng USD quá mạnh bóp nghẹt ngành chế tạo nội địa, khiến hàng hóa Mỹ mất khả năng cạnh tranh trước Nhật Bản và Tây Đức, còn thâm hụt tài khoản vãng lai thì phình nhanh.

Ngày 22/9/1985, bộ trưởng tài chính 5 nền kinh tế lớn nhất khi đó, gồm Mỹ, Nhật Bản, Tây Đức, Anh và Pháp, ký Hiệp định Plaza tại New York, mở một chiến dịch bán USD đồng loạt để nâng giá các đồng tiền còn lại. Nhật Bản tham gia vì hiểu rằng nếu không chủ động để đồng Yên lên giá, Mỹ sẽ dùng tới thuế quan trừng phạt và kiểm soát xuất khẩu.

Đà điều chỉnh sau đó vượt xa tính toán của chính những bên đặt bút ký. Từ 240 JPY/USD vào tháng 9/1985, tỷ giá về 200 vào tháng 12 cùng năm, rồi 154 vào tháng 9/1986, thời điểm Mỹ và Nhật Bản ngầm đồng thuận rằng đồng Yên đã lên giá đủ. Thị trường vẫn không dừng lại. Đến tháng 12/1987, tỷ giá chạm 120 JPY/USD, đồng Yên tăng giá gấp đôi sau hai năm, bất chấp Hiệp định Louvre ký tháng 2/1987 nhằm ổn định lại tỷ giá.

Nhật Bản đã phải trả giá bằng một cuộc khủng hoảng kéo dài. Đồng Yên tăng gấp đôi làm giảm một nửa doanh thu xuất khẩu tính bằng nội tệ của các tập đoàn Nhật Bản, ăn mòn động lực tăng trưởng cốt lõi. Để đỡ nền kinh tế qua cú sốc, BOJ hạ lãi suất cơ bản 5 lần liên tiếp, xuống mức 2,5% vào năm 1987. Môi trường tiền rẻ bơm căng bong bóng bất động sản và chứng khoán và khi bong bóng vỡ vào đầu thập niên 1990, Nhật Bản bước vào những thập niên mất mát.

Hai di sản của giai đoạn đó còn nguyên tới hôm nay. Các tập đoàn Nhật Bản thôi cạnh tranh bằng giá và chuyển nhà máy sang chính thị trường tiêu thụ, còn nền kinh tế thì quen với mặt bằng lãi suất gần bằng 0. Chính hai di sản ấy khiến công cụ tỷ giá năm 2026 không còn tác dụng như 4 thập niên trước.

 

Giới hạn của một cái bắt tay

So với Thỏa ước Plaza, đợt can thiệp năm 2026 kín đáo hơn nhiều nhưng theo cùng một logic. Plaza là thỏa thuận đa phương công bố rộng rãi, nhằm hạ giá USD trên diện rộng, còn can thiệp năm 2026 là hành động đơn phương gián tiếp, thực hiện lặng lẽ và đi kèm lời phủ nhận chính thức, nhằm nâng giá Yên mà vẫn giữ nguyên sức mạnh rổ DXY.

Ràng buộc khác nhau sinh ra công cụ khác nhau: năm 1985 nợ công Mỹ còn thấp nên ưu tiên là cứu ngành sản xuất, còn năm 2026 nợ công gần 40 nghìn tỷ USD nên ưu tiên là giữ cho thị trường trái phiếu không rung lắc.

Điểm chung là mỗi lần Mỹ trực tiếp bước vào thị trường ngoại hối, một trục lợi ích cốt lõi của Washington đang bị đe dọa. Năm 1985 đó là ngành chế tạo nội địa, còn năm 2026 là thị trường trái phiếu Kho bạc và sức mạnh của rổ DXY. Những vị thế đầu cơ đi ngược trục lợi ích đó luôn đứng trước rủi ro bị thanh lý đột ngột.

Kỹ thuật khéo đến đâu cũng vấp phải giới hạn của nền tảng vĩ mô. Chuyên gia của Citigroup chỉ ra rằng bán chéo Euro thực chất chuyển gánh nặng điều chỉnh tỷ giá từ Mỹ sang châu Âu, khi đồng Yên hồi phục còn Eurozone nhận thêm rủi ro nhập khẩu lạm phát. Dự trữ ngoại hối của các ngân hàng trung ương, dù lớn đến đâu, vẫn là con số hữu hạn.

Chiến lược gia ngoại hối của JPMorgan Chase cho rằng can thiệp kỹ thuật chỉ xoa dịu tâm lý thị trường trong ngắn hạn, và áp lực mất giá của đồng Yên sẽ trở lại ngay khi dòng vốn kinh doanh chênh lệch lãi suất hoạt động trở lại. Khi sức nóng của những lệnh mua hàng chục tỷ USD nguội đi, thị trường quay về kiểm chứng yếu tố quyết định dòng vốn là chênh lệch chi phí vốn giữa Nhật Bản và Mỹ. Chừng nào khoảng cách đó chưa thu hẹp, mọi cái bắt tay can thiệp đều chỉ mua thêm thời gian.