Chuyên mục
Tin mới
Logo Doanh nhân Việt Nam
Tìm kiếm
Hai người phụ nữ trong đời thơ Hữu Loan
Hai người phụ nữ trong đời thơ Hữu Loan
HẢI AN - 00:51 16/07/2021

 HUYỀN THOẠI VỀ BÀI THƠ TÌNH HAY NHẤT THẾ KỶ

Cái đám cưới kỳ lạ “Ngày hợp hôn/ Nàng không đòi may áo cưới/ Tôi mặc đồ quân nhân/Đôi giày đinh/ Bết bùn đất hành quân/ Nàng cười xinh xinh/ Bên anh chồng độc đáo’’ ấy diễn ra vào ngày 16/2/1949. Năm ấy nhà thơ 33 tuổi còn vị hôn thê mới tròn 16 tuổi. Sau ngày cưới ông lại vào chiến trường. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang. người vợ trẻ của ông đã đột ngột ra đi… Từ nỗi đau tận cùng ấy một tác phẩm thi ca bất hủ đã ra đời.

Hai người phụ nữ trong đời thơ Hữu Loan - ảnh 1

Có lẽ người ta nhớ đến Hữu Loan là nhớ đến bài thơ Màu tím hoa sim với những xúc cảm chân thành của một mối tình âm dương cách trở. Đôi mắt nhà thơ ánh lên khi nhắc về mối tình đầu đau thương và câm nín. Người con gái trong bài thơ Màu tím hoa sim là người đàn bà đầu tiên trong cuộc đời Hữu Loan và dù đã sáu thập kỉ trôi qua nhưng những cảm xúc ngày nào vẫn như đang vây rát trong tâm trí lão nhà thơ.

Không gian của bài thơ được kết thúc bằng những đồi hoa sim tím loang dần những vạt đồi miền trung du. Đấy là những cánh đồi sim mua ngút ngàn ở chân núi Nưa bên dòng sông Yên xanh thẳm. Địa danh ấy ngày xưa gọi là Bến Chuồng với những dãy đồi thấp san sát nhau và những dòng khe, những hồ nước tĩnh lặng đến nao lòng. Mỗi độ thu về hoa sim hoa mua dệt không gian thành màu tím mông mênh nhìn ngun ngút con mắt. Đến tận ngày hôm nay những vạt đồi tím ấy vẫn như chẳng có gì thay đổi như bản thân vùng quê bán sơn địa ấy. Người viết bài này đã từng tắm mình trong cái màu tím mang mang ấy để thấu cái biền biệt sơn khê và cảm giác rất lạ “khi gió sớm thu về rợn rợn nước sông” mà Hữu Loan đã gọi tên trong bài thơ để đời của ông.

Hai người phụ nữ trong đời thơ Hữu Loan - ảnh 2

Người con gái “tóc chưa đầy búi” ấy tên là Lê Đỗ Thị Ninh con gái ông Lê Hữu Kỳ, quan tham biện nhà Nguyễn. Thời đi học và bắt đầu tham gia phong trào yêu nước, Hữu Loan trọ học và làm gia sư ở nhà cụ tham biện, dạy ba người anh bà là Lê Đỗ Khôi, Lê Đỗ Nguyên và Lê Đỗ An. Sau này ông có nhắc đến họ trong câu thơ “Nàng có 3 người anh đi bộ đội” hay “Một chiều rừng mưa/ Ba người anh nơi chiến trường Đông Bắc/ Được tin em gái mất/ Trước tin em lấy chồng” là như vậy. Lúc đấy bà Ninh còn nhỏ chỉ độ 10 tuổi và rất chăm chú nghe ông giảng bài cho các anh. Tình cảm dần dần nảy nở trong lòng cô gái nhỏ. Cụ Lê Hữu Kì rất quí mến nhà thơ và coi ông như con trong nhà cũng âm thầm vun vén tình cảm cho con gái. Sau khi cách mạng Tháng Tám thành công cụ Lê Hữu Kì về lui về ở ấp nhỏ dưới chân núi Nưa. Ba người con lớn của cụ lần lượt nhập ngũ. Hữu Loan cũng gia nhập sư đoàn 304 làm công tác tuyên huấn. Thi thoảng có dịp, ông lại đạp xe về nhà cụ chơi. Chính trong thời gian giữa những cuộc đi về chớp nhoáng ấy tình yêu giữa người chiến sĩ-nhà thơ Hữu Loan và cô tiểu thư Lê Đỗ Thị Ninh đã đơm hoa kết nụ. Cái đám cưới kì lạ đi vào Màu tím hoa sim ấy diễn ra vào ngày 16/2/1949. Năm ấy nhà thơ 33 tuổi còn vị hôn thê mới tròn 16 tuổi. Sau ngày cưới ông lại ra chiến trường. Nhưng ngày vui ngắn chẳng tày gang, người vợ trẻ của ông đã đột ngột ra đi do bị đuối nước ngày 29/5/1949.

Khi hồi ức đến đây tôi thấy mắt lão nhà thơ ngân ngấn, chực trào nước mắt. Cái khóc khan của một người đã ngoài 90 tuổi và trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm, cay đắng của cuộc đời. Ông cất giọng đọc khe khẽ: 

Nhưng không chết

Người trai khói lửa

Mà chết

Người gái nhỏ hậu phương

Tôi về

Không gặp nàng

Mẹ tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

Thành bình hương

Tàn lạnh vây quanh

Giọng đọc của ông không còn tròn trịa bởi đôi hàm răng đã rụng gần hết. Ông cầm li rượu nhấp một chút rồi để xuống mắt nhìn xa xăm như đang dõi đến tận chốn nào xa lắm. Khi tôi hỏi ông có còn giữ được tấm ảnh nào của bà Ninh không thì ông ngồi thần ra mất một lúc. Ông bảo cái mùa bão cách đây mười mấy năm khi nhà bị đổ, mưa lũ dâng ngập nước ông đã làm thất lạc tấm ảnh mà bấy lâu ông luôn giữ kề kề bên mình. 

Hai người phụ nữ trong đời thơ Hữu Loan - ảnh 3

Từ nỗi đau đớn tột cùng bài thơ ra đời và làm nên tên tuổi nhà thơ Hữu Loan. Con tạo xoay vần dường như cũng an ủi, bù đắp cho những mất mát của ông: Sau này một mối tình si khác không dạt dào, không dậy sóng nhưng trọn vẹn, dài lâu đã đến với Hữu Loan.

Hai người phụ nữ trong đời thơ Hữu Loan - ảnh 4

Em là con gái đồng xanh

Tóc dài

Vương hương lúa

Đôi mắt em mang

Chân trời quê cũ

Giếng ngọt

Cây đa

Anh khát

Tình quê ta

Trong mắt em

Thăm thẳm…

Có lẽ những vần thơ đẹp và tươi tắn ấy đã làm chúng ta hiểu phần nào về người vợ thứ hai của nhà thơ Hữu Loan, người đã luôn ở bên cạnh ông và là điểm tựa cho ông vượt qua những rộng dài kiếp người nhiều khổ đau và giằng xé. Bài thơ Hoa lúa có đoạn trích ở trên có lẽ là bài thơ mà ông tâm đắc nhất cuộc đời dù nó không nổi tiếng như Màu tím hoa sim hay Đèo Cả. Bài thơ ấy ông viết năm 1956 tặng bà Phạm Thị Nhu khi bà đang mang thai người con thứ hai của ông.

Rời quân ngũ, Hữu Loan lặng lẽ trở về quê dạy học ở trường Mai Anh Tuấn do ông Phạm Ngọc Thái làm hiệu trưởng. Ông hiệu trưởng và nhà thơ rất tâm đầu ý hợp và họ mến nhau như anh em một nhà. Ông Thái là con lớn trong một gia đình đại địa chủ có 13 anh em. Một trong những người em của ông là bà Phạm Thị Nhu lúc đó vừa chớm thành thiếu nữ. 

Hai người phụ nữ trong đời thơ Hữu Loan - ảnh 5

Ngày ấy chiều chiều có một cô gái xinh đẹp nết na đi qua ngôi trường làng để ra giếng làng gánh nước. Thi thoảng cô lại dừng chân, nấp bên khe cửa lớp lén nghe anh giáo giảng Kiều.

Giờ đây ngồi bên ông, nghe bà kể chuyện mà tôi vẫn cảm nhận được sự nể phục e ấp của cô gái chớm biết yêu thuở nào. Bà bảo “Ông ấy giảng Kiều hay lắm, ai trót nghe cũng phải chết mê chết mệt”. Còn ông thì dù đang dạy nhưng mắt lúc nào cũng nhìn ra của sổ để thả mình theo làn “Tóc dài/ vương hương lúa”. Bà bảo lúc ấy bà còn chưa biết tên ông còn ông thì gọi bà là cô bé trẻ bò. Nhưng từ những lần gặp nhau nhìn he hé qua cửa lớp học ấy được mọi người ra sức vun vén hai người đến với nhau thật tự nhiên. Khi kể đến đây lão nhà thơ còn đùa “Bà đúng là trẻ bò mà đã biết ve chồng”. Bà cự: “Ai lúc đấy thèm để ý đến ông gần 40 tuổi lại còn đã qua một đời vợ”. Ông quay sang tôi phân trần: “Đấy nhà báo thấy chưa bà ấy là táo tợn lắm”

Đám cưới của nhà thơ và em gái đồng xanh diễn ra vào ngày 16/11/1953 âm lịch trong một chiều đông “Nhạc quê hương/ Say đắm/Trong lời em/Từng lời…” Khi ấy nhà thơ đã 37 tuổi còn bà Nhu tròn 18 tuổi. Bà bảo khi ấy bà còn bé đến độ lúc mặc áo cưới còn phải mặc độn gần chục cái áo cho trông ra dáng cô dâu một chút. Và từ đó hai người đã sống với nhau cho đến ngày hôm nay với mười mặt con. 

Hai người phụ nữ trong đời thơ Hữu Loan - ảnh 6 

Sau đám cưới giữa Hữu Loan và bà Phạm Thị Nhu không lâu thì chiến thắng Điện Biên Phủ, hoà bình lập lại trên miền Bắc. Ông lại hăm hở khăn gói ra Hà Nội công tác ở báo Văn nghệ. Ở nhà bà  sinh hạ người con trai đầu lòng. Cuộc sống ngày càng trở nên khó khăn. Rồi ông lặng lẽ rời Hà Nội trở về quê hương với “Những đêm dài/ Em khóc/ Đâỳ/ Như giếng mưa/ Câm/ Như bồ thóc’’. 

(Bà Phạm Thị Nhu mất năm 2015, bà được an táng ngay cạnh mộ nhà thơ).

Hai người phụ nữ trong đời thơ Hữu Loan - ảnh 7 

Câu chuyện của chúng tôi thỉnh thoảng lại bị ngắt quãng vì những vị khách yêu thơ tứ phương có việc ngang qua vào thăm ông. Ai cũng vội vã nhưng chân thành. Có người là giáo viên dạy văn ở miền núi về thăm bạn gần đấy cứ ôm lấy lão nhà thơ mà khóc. Có người đến chỉ để gửi ông một túi quà. Có lẽ khó ai dửng dưng nổi khi bước chân vào ngôi nhà ấy khi ông nằm một góc, bà nằm một góc và dưới gầm giường có tới 4 cái bô mà những ai đã từng chăm người ốm trong bệnh viện đều biết. Tôi đề nghị hai ông bà ra ngồi trước cửa để chụp chung một tấm ảnh kỉ niệm. Hơn nữa tôi không muốn đưa lên báo cái không khí ảm đạm trong căn nhà. Tôi dìu nhà thơ ra trước cửa đặt ông ngồi vào chiếc ghế nhựa rồi quay vào nhà bế bà ra. Bà vẫn chưa hết đau vì cái chân gãy ngang đùi vừa tháo bột. Qua ống kính máy ảnh tôi nhìn thấy đôi vợ chồng già nua ấy ánh lên nụ cười như muốn tát cạn thời gian vào hai hốc mắt. Nụ cười khiêm cung, kiêu hãnh của những con người đã đi qua tột cùng mọi cung bậc cuộc đời.

Anh kiêu hãnh

Có quê hương

Bất khuất

Và có người yêu

Là em gái quê hương

Anh yêu em

Muôn vàn

Như quê ta

Bất diệt…

Đã 15 năm trôi qua nhưng cuộc gặp mặt xúc động và những hình ảnh của ông bà hôm ấy vẫn  còn thao thức mãi trong tâm trí tôi.