HSC phác họa bức tranh về lộ trình cấu trúc vốn của hàng loạt doanh nghiệp Nhà nước

Thơ Hoàng 14:42 | 11/08/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Công ty Chứng khoán Hồ Chí Minh (HSC) phác họa bức tranh về lộ trình cơ cấu vốn một chu kỳ tái cấu trúc vốn tại các doanh nghiệp Nhà nước sau khi Quyết định 40/2026/QĐ-TTg được ban hành.

Quyết định 40/2026/QĐ-TTg ngày 5/8/2026 quy định tiêu chí phân loại doanh nghiệp để cơ cấu lại vốn Nhà nước, theo đó doanh nghiệp được chia thành ba nhóm: Nhà nước nắm giữ từ 65% vốn trở lên; nắm giữ từ 50% đến dưới 65%; và thoái vốn toàn bộ tại các ngành nghề ngoài ngành cốt lõi hoặc doanh nghiệp do SCIC nắm giữ dưới 50%.Sự phân định này tạo ra khung pháp lý rõ ràng hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu về tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng (free-float), ngưỡng tối thiểu cổ phiếu đại chúng cũng như nhu cầu tăng vốn điều lệ để duy trì tỷ lệ sở hữu Nhà nước theo quy định.

Theo HSC, ngành ngân hàng và tài chính sẽ phải đối mặt với áp lực tăng vốn, đồng thời mở ra cơ hội thực hiện các đợt chào bán riêng lẻ. Đối với nhóm ngân hàng quốc doanh, CTG, VCB và BID dự kiến thuộc nhóm Nhà nước tiếp tục nắm giữ từ 65% vốn trở lên.

Tại CTG, tỷ lệ sở hữu Nhà nước hiện ở mức 64,46%, thấp hơn ngưỡng mục tiêu 65%. Theo HSC, ngân hàng cần có kế hoạch tăng vốn để nâng tỷ lệ sở hữu Nhà nước lên mức yêu cầu, nhiều khả năng thông qua hình thức phát hành qua SCIC hoặc bổ sung vốn từ ngân sách.

Trong khi đó, tỷ lệ sở hữu Nhà nước tại VCB và BID lần lượt ở mức 74,80% và 76,73%, đều cao hơn ngưỡng 65%. Theo HSC, hai ngân hàng đã có kế hoạch chào bán riêng lẻ, dự kiến triển khai trong giai đoạn cuối năm 2026 - 2027. Việc này giúp các ngân hàng tăng vốn, đồng thời mở ra dư địa cho nhà đầu tư chiến lược nhưng vẫn duy trì quyền kiểm soát chi phối. Tuy nhiên, rủi ro pha loãng cổ phiếu trong trung hạn vẫn hiện hữu.

Đối với Bảo hiểm Bảo Việt (BVH), Nhà nước hiện nắm giữ 68% vốn. Theo HSC, doanh nghiệp không có yêu cầu về tỷ lệ sở hữu Nhà nước tối thiểu, qua đó tạo sự linh hoạt để Chính phủ giảm tỷ lệ sở hữu tại BVH theo thời gian. HSC chưa kỳ vọng BVH được thoái vốn ngay, song việc giảm sở hữu Nhà nước trong trung hạn là có thể, tiềm năng thông qua các đợt bán cổ phần của Bộ Tài chính và hoặc SCIC.

Trong nhóm dầu khí, hóa chất và khai khoáng, GAS, BSR, DPM, DCM và KSV chịu những tác động khác nhau từ Quyết định 40/2026.

 

 

Tại GAS, tỷ lệ sở hữu Nhà nước hiện ở mức 95,76%. Với mục tiêu Nhà nước tiếp tục nắm giữ từ 65% vốn trở lên, phương án bán 30% cổ phần chưa đủ để chuyển quyền quyết định. Theo HSC, vướng mắc lớn nhất của GAS nằm ở điều kiện có 100 cổ đông không có quyền chi phối để duy trì tư cách công ty đại chúng.

Tương tự, BSR hiện có tỷ lệ sở hữu Nhà nước ở mức 92,13%. Dù có thể duy trì tỷ lệ sở hữu của PVN ở mức 90%, yêu cầu 10% cổ phiếu tự do chuyển nhượng do 100 cổ đông không chi phối nắm giữ là vấn đề BSR cần giải quyết để duy trì tư cách công ty đại chúng trong thời gian tới nếu không có kế hoạch thoái vốn cụ thể.

Đối với KSV, Nhà nước hiện nắm giữ trên 90% vốn và doanh nghiệp dự kiến thuộc nhóm Nhà nước tiếp tục nắm giữ từ 65% trở lên. Tuy nhiên, hiện chưa có kế hoạch thoái vốn cụ thể đối với KSV.

Trong khi đó, tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng của KSV chỉ ở mức 2%. Theo HSC, nếu không có việc Nhà nước thoái vốn hoặc kế hoạch nâng tỷ lệ này lên trên 10% để đáp ứng điều kiện công ty đại chúng, KSV có thể bị hủy niêm yết bắt buộc.

Đối với DPM và DCM, tỷ lệ sở hữu Nhà nước hiện nằm trong khoảng 59,59%–75,56%. DPM hiện có tỷ lệ sở hữu Nhà nước dưới ngưỡng 65%; việc duy trì hoặc tăng tỷ lệ này sẽ phụ thuộc vào cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Trong khi đó, DCM đã đáp ứng tiêu chí Nhà nước nắm giữ từ 65% vốn trở lên. Cả hai doanh nghiệp hiện chưa ghi nhận kế hoạch tăng vốn hoặc thoái vốn.

Tại POW, HSC cho rằng Nhà nước dự kiến sẽ thoái vốn và duy trì tỷ lệ sở hữu trong khoảng 50%–65%. POW không mặc nhiên chịu ngưỡng sở hữu tối thiểu theo Quyết định 40/2026; việc giảm tỷ lệ sở hữu Nhà nước sẽ phụ thuộc vào đề án tái cơ cấu vốn được PVN phê duyệt. Đến nay, HSC chưa ghi nhận kế hoạch thoái vốn chính thức tại POW.

Đáng chú ý, NTP vẫn nằm trong danh mục thoái vốn của SCIC. Theo HSC, yếu tố then chốt để triển khai thành công trong thời gian tới sẽ là mức định giá.

Ở nhóm hạ tầng giao thông, hàng không và logistics, nhiều doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu Nhà nước cao và đang đứng trước các phương án tái cấu trúc vốn khác nhau.

ACV hiện có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 95,41% và có dư địa khoảng 30,4% để chào bán cổ phần ra công chúng. Nhà nước sau đó sẽ góp các tài sản này vào ACV như phần vốn bổ sung, trong khi cổ đông ngoài Nhà nước có thể mua thêm cổ phần bằng tiền mặt.

Theo HSC, phần góp bằng tiền của cổ đông ngoài Nhà nước cần lớn hơn đáng kể so với phần góp bằng tài sản của Nhà nước để pha loãng tỷ lệ sở hữu Nhà nước và giúp ACV đáp ứng yêu cầu tối thiểu 10% cổ phiếu tự do chuyển nhượng. Với các thủ tục cần thiết, HSC dự kiến việc Nhà nước thoái vốn sớm nhất diễn ra vào năm 2027.

Trong khi đó, HVN, VEA, SGP, MVN và PHP đều duy trì vị thế quan trọng với tỷ lệ sở hữu Nhà nước cao.

Đối với HVN, doanh nghiệp duy trì quyền kiểm soát của Nhà nước với tỷ lệ tối thiểu 65%. Dù có kế hoạch giảm sở hữu trong giai đoạn 2027–2028, nhưng do lộ trình chi tiết chưa được quyết định, nên đây sẽ là câu chuyện mang tính dài hạn thay vì yếu tố xúc tác đối với giá cổ phiếu trong ngắn hạn.

Các doanh nghiệp vận hành đội tàu và cảng biển như MVN và PHP được đánh gia có nhiều dư địa để hợp tác chiến lược hoặc mở rộng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng.

Trong đó, VIMC có kế hoạch tăng vốn cho MVN thông qua chào bán cổ phiếu ra công chúng, tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược, giảm sở hữu Nhà nước xuống 65% và chuyển niêm yết từ UPCoM sang HOSE.

Đối với PHP, hiện VIMC đang nắm giữ 92,56% vốn và doanh nghiệp có dư địa thoái vốn, đặc biệt để đáp ứng điều kiện về tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng.

Ngược lại, SGP được xác định là doanh nghiệp khai thác cảng biển cốt lõi và không có kế hoạch thoái vốn.

Đối với DRC, HSC đánh giá doanh nghiệp có khả năng cao nằm trong đề án thoái vốn giai đoạn 2026–2030 của Vinachem, dự kiến sớm được trình Chính phủ phê duyệt.

Trong khi đó, với VEA, do hoạt động cốt lõi thuộc lĩnh vực "Cơ khí chế tạo" – nhóm ngành then chốt được Nhà nước xác định cần duy trì tỷ lệ sở hữu tối thiểu 65% – khả năng thoái vốn tại doanh nghiệp này được đánh giá là hạn chế.

Ở nhóm tiêu dùng, SAB và VNM là hai doanh nghiệp được đề cập trong lộ trình thoái vốn của Nhà nước. Đối với SAB, Nhà nước dự kiến thoái toàn bộ hoặc tiếp tục thoái vốn. Trong khi đó, VNM nằm trong chiến lược tối ưu hóa vốn và thoái vốn của SCIC.

Trong lĩnh vực bất động sản công nghiệp, BCM hiện có tỷ lệ sở hữu Nhà nước 95,44% và có lộ trình giảm sở hữu Nhà nước xuống 65% trong giai đoạn 2026–2030 thông qua phát hành cổ phiếu ra công chúng. Theo đó, phương án này vừa giúp đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng, vừa huy động vốn cho danh mục khu công nghiệp và đô thị.

Dù lộ trình triển khai chưa được xác nhận, HSC cho rằng việc giảm sở hữu Nhà nước tại BCM ngày càng khả thi và có thể trở thành yếu tố mang tính cấu trúc đối với doanh nghiệp, trong bối cảnh khung pháp lý mới được ban hành.

Đối với GVR, doanh nghiệp thuộc diện đề án cơ cấu lại vốn Nhà nước tại DNNN. Tuy nhiên, công ty chưa công bố lộ trình hoặc thời gian triển khai cụ thể.

Trong nhóm công nghệ và viễn thông, FPT tiếp tục nằm trong danh mục thoái vốn ngoài ngành cốt lõi của SCIC. Đáng nói, yếu tố then chốt để triển khai thành công trong thời gian tới sẽ là mức định giá.

Đối với FOX, HSC cho rằng Bộ Công an sẽ chưa thoái vốn do mới tiếp nhận doanh nghiệp từ SCIC vào tháng 7/2025. Tuy nhiên, để duy trì tư cách công ty đại chúng, FOX sẽ cần giải pháp nâng tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng lên trên 10%.

Trong khi đó, các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Viettel như VGI, CTR và VTP có tỷ lệ sở hữu nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Quyết định 40 hoặc chưa có kế hoạch thoái vốn cụ thể tính đến thời điểm hiện tại.