Kết quả kinh doanh nhóm dầu khí: BRS nổi bật, PVS hưởng lợi từ khoản thu nhập bồi thường
Bức tranh kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 của nhóm doanh nghiệp dầu khí cho thấy sự phân hóa giữa các lĩnh vực, song phần lớn doanh nghiệp đều ghi nhận kết quả tích cực so với cùng kỳ.
Trong nhóm doanh nghiệp dầu khí, Tổng công ty Lọc hóa dầu Việt Nam (HOSE: BSR) là trường hợp nổi bật nhất khi lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng 12,6 lần so với cùng kỳ, đạt 15.727 tỷ đồng. Kết quả này chủ yếu được hỗ trợ bởi sản lượng bán tăng và chênh lệch giá giữa các sản phẩm lọc dầu với dầu thô đầu vào được cải thiện mạnh.
Cụ thể, BSR ghi nhận doanh thu 6 tháng đầu năm đạt 104.636 tỷ đồng, tăng 52% so với cùng kỳ. Sản lượng sản xuất đạt 4,05 triệu tấn, tăng 5% và hoàn thành khoảng 51% dự báo cả năm. Đáng chú ý, biên lợi nhuận gộp tăng 15,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ, phản ánh mức chênh lệch giá sản phẩm lọc dầu thuận lợi.
Theo đó, crack spread Platts Singapore (mức chênh lệch giá) bình quân 6 tháng đầu năm tăng 2,2 lần đối với xăng, 3,6 lần đối với nhiên liệu bay Jet A1 và 3,2 lần đối với dầu diesel. Trong khi đó, giá dầu Brent bình quân tăng 24% so với cùng kỳ.
Dầu diesel DO 0,05S là sản phẩm đóng góp doanh thu lớn nhất cho BSR trong nửa đầu năm, đạt khoảng 46.800 tỷ đồng. Tiếp theo là RON 95 với gần 28.070 tỷ đồng và nhiên liệu phản lực A-1 với hơn 8.166 tỷ đồng. Các sản phẩm khác gồm LPG đạt gần 4.589 tỷ đồng, E10 RON 95 hơn 2.219 tỷ đồng và T3034 khoảng 2.148 tỷ đồng.
Không chỉ cải thiện kết quả kinh doanh, quy mô tài chính của BSR cũng tăng đáng kể trong nửa đầu năm. Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản của doanh nghiệp đạt 105.419 tỷ đồng, tăng 24% so với đầu năm.
Đáng chú ý, tiền, các khoản tương đương tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn đạt 53.776 tỷ đồng, tăng 23% so với đầu năm và chiếm khoảng 51% tổng tài sản. Vốn chủ sở hữu đạt 74.360 tỷ đồng, tăng 23% và chiếm 70,5% tổng nguồn vốn.
Doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp dầu khí trong 6 tháng đầu năm 2026. (Thơ Hoàng t/h)
Tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam (PLX) cũng ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực trong nửa đầu năm 2026, với lợi nhuận tăng trưởng nhờ sản lượng bán trong nước cải thiện và đóng góp đáng kể từ các công ty con hoạt động trong lĩnh vực chuyên doanh, kinh doanh quốc tế.
Trong 6 tháng đầu năm, PLX ghi nhận doanh thu 234.916 tỷ đồng, tương đương khoảng 9 tỷ USD, tăng 63% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế đạt 2.868 tỷ đồng, tăng 43%; và lợi nhuận sau thuế thuộc về cổ đông công ty mẹ đạt 2.046 tỷ đồng, tăng 36%. So với kế hoạch cả năm, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 75% mục tiêu doanh thu và 85% mục tiêu lợi nhuận trước thuế.
Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ sản lượng bán xăng dầu trong nước tăng 12,2% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, lợi nhuận của PLX phục hồi mạnh trong quý II nhờ doanh nghiệp hoàn nhập khoảng 6.000 tỷ đồng dự phòng giảm giá hàng tồn kho đã trích lập trong quý I.
Theo giải trình của doanh nghiệp, bên cạnh kết quả tích cực từ công ty mẹ và sản lượng bán xăng dầu tăng, giúp tiết giảm chi phí cố định và nâng cao hiệu quả hoạt động, các công ty con trong lĩnh vực chuyên doanh và kinh doanh quốc tế tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Nhóm này đóng góp hơn 65% vào kết quả hợp nhất của PLX trong 6 tháng đầu năm.
Trong đó, Công ty cổ phần Nhiên liệu bay Petrolimex đạt lợi nhuận 352 tỷ đồng, tăng 2,5 lần so với cùng kỳ. Hoạt động kinh doanh của Petrolimex Singapore và Petrolimex Lào mang về 385 tỷ đồng, tăng cao so với cùng kỳ. Tổng công ty Hóa dầu Petrolimex đạt 237 tỷ đồng, tăng 3 lần; Công ty TNHH Liên doanh Castrol BP Petco đạt 210 tỷ đồng, trong khi Tổng công ty Gas Petrolimex đạt 124 tỷ đồng, tăng 1,6 lần.
Dù lợi nhuận tăng trưởng, biên lợi nhuận gộp 6 tháng của PLX lại thu hẹp từ 6,1% xuống 4,8% trong bối cảnh giá xăng dầu biến động mạnh. Chi phí bán hàng cũng tăng 18% so với cùng kỳ khi doanh nghiệp tiếp tục mở rộng hoạt động phân phối.
Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản của PLX đạt gần 87.900 tỷ đồng, tăng hơn 2.000 tỷ đồng so với đầu năm. Doanh nghiệp đang nắm giữ hơn 22.780 tỷ đồng tiền mặt, tiền gửi và các khoản đầu tư tài chính ngắn, dài hạn, tương đương hơn 25% tổng tài sản.
Tại Tổng công ty Dầu Việt Nam (OIL) doanh thu 6 tháng đầu năm 2026 đạt 134.867 tỷ đồng, tăng 86% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 476 tỷ đồng, tăng 105% so với mức 232 tỷ đồng cùng kỳ năm 2025; trong đó, lợi nhuận sau thuế sau lợi ích cổ đông thiểu số đạt 380 tỷ đồng, tăng 84%.
Kết quả tích cực trong nửa đầu năm được hỗ trợ bởi sản lượng bán xăng dầu trong nước tăng 25% so với cùng kỳ, trong bối cảnh OIL đẩy mạnh nhập khẩu và phân phối để bảo đảm nguồn cung. Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn hưởng lợi từ lượng hàng tồn kho được mua ở mức giá thấp vào cuối năm 2025 và bán ra trong giai đoạn giá dầu tăng.
Tuy nhiên, diễn biến kinh doanh của OIL có sự đảo chiều trong quý II. Doanh thu quý đạt khoảng 90.000 tỷ đồng, tăng 126% so với cùng kỳ, nhưng doanh nghiệp ghi nhận khoản lỗ sau lợi ích cổ đông thiểu số 136 tỷ đồng.
Nguyên nhân chủ yếu đến từ biên lợi nhuận gộp giảm xuống 1,4%, so với 2,9% cùng kỳ năm trước, khi giá dầu thế giới giảm mạnh trong tháng 5 và tháng 6, gây ảnh hưởng bất lợi đến giá trị hàng tồn kho. Trong quý, OIL cũng phải trích lập 217 tỷ đồng dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Cùng với đó, chi phí bán hàng tăng 35% và chi phí tài chính tăng 2,4 lần so với cùng kỳ, khiến lợi nhuận chịu thêm áp lực, dù sản lượng bán trong nước vẫn tăng 22%.
Đáng chú ý, đến cuối quý II, OIL còn 232 tỷ đồng dự phòng giảm giá hàng tồn kho, mức cao nhất kể từ năm 2021. Khoản dự phòng này được xem là một yếu tố có thể tạo thêm dư địa hỗ trợ lợi nhuận trong nửa cuối năm nếu diễn biến giá hàng hóa thuận lợi.
Về quy mô tài sản, tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản của OIL đạt 49.225 tỷ đồng, tăng gần 3.620 tỷ đồng so với đầu năm. Động lực chính đến từ hàng tồn kho, tăng gần gấp đôi lên 5.688 tỷ đồng so với đầu năm.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Tổng công ty Khí Việt Nam (GAS) ghi nhận doanh thu 81.268 tỷ đồng, tăng 46% so với cùng kỳ. Lợi nhuận trước thuế đạt 11.207 tỷ đồng, tăng 17%, trong khi lợi nhuận sau thuế đạt 9.025 tỷ đồng, tăng 19%.
Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ mảng khí tự nhiên, với doanh thu tăng 94% so với cùng kỳ. Sản lượng khí bán trong nước tăng 7%, trong khi giá dầu nhiên liệu tăng 24%. Hoạt động kinh doanh LNG quốc tế cũng được đánh giá có khả năng cải thiện so với cùng kỳ.
Ở mảng LPG, doanh thu tăng 5%, trong khi lợi nhuận gộp tăng 2%. Biên lợi nhuận gộp đạt 7,2%, cao hơn 1,1 điểm phần trăm so với dự báo cả năm, cho thấy hiệu quả kinh doanh của mảng này tích cực hơn kỳ vọng.
Bên cạnh kết quả kinh doanh, quy mô tài sản của GAS cũng tiếp tục mở rộng. Tại cuối quý II/2026, tổng tài sản đạt 102.870 tỷ đồng, tăng 10% so với đầu năm. Trong đó, tài sản ngắn hạn tăng 13%, còn tài sản dài hạn tăng 1%.
Đáng chú ý, tiền, các khoản tương đương tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn đạt 45.457 tỷ đồng, tăng 14% so với đầu năm, tiếp tục duy trì ở mức cao và tạo nền tảng thanh khoản cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Khác với các doanh nghiệp trong nhóm, tăng trưởng lợi nhuận của Tổng công ty CP Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PVS) trong nửa đầu năm 2026 được hỗ trợ đáng kể bởi khoản thu nhập bồi thường, trong khi biên lợi nhuận gộp chịu áp lực từ chi phí đầu vào và cơ cấu doanh thu.
Lũy kế 6 tháng đầu năm, PVS ghi nhận doanh thu 17.288 tỷ đồng, tăng 29,3% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 998 tỷ đồng, tăng 63%. Kết quả này giúp doanh nghiệp hoàn thành 52,4% kế hoạch doanh thu và vượt nhẹ kế hoạch lợi nhuận sau thuế cả năm, với tỷ lệ thực hiện đạt 100,8%.
Tuy nhiên, tốc độ tăng lợi nhuận gộp thấp hơn đáng kể so với doanh thu. Lợi nhuận gộp 6 tháng đạt 1.455 tỷ đồng, chỉ tăng 2,4% so với cùng kỳ, kéo biên lợi nhuận gộp giảm từ 10,62% xuống 8,42%, tương ứng giảm 2,2 điểm phần trăm.
Áp lực lên biên lợi nhuận chủ yếu đến từ chi phí tiền lương, nhân công tăng 24% và chi phí khấu hao máy móc tăng 30% sau giai đoạn đầu tư lớn vào cuối năm 2025. Bên cạnh đó, mảng cơ khí và xây lắp (M&C) có biên lợi nhuận thấp hiện chiếm khoảng 61% tổng doanh thu, trong khi các mảng dịch vụ cốt lõi có biên lợi nhuận cao hơn như tàu kỹ thuật và căn cứ cảng vẫn đóng góp tỷ trọng doanh thu tương đối thấp.
Đáng chú ý, lợi nhuận sau thuế của PVS trong nửa đầu năm còn được hỗ trợ bởi 456 tỷ đồng thu nhập khác thuần, được đánh giá là khoản bồi thường liên quan đến việc hủy hợp đồng EPC thuộc dự án điện gió ngoài khơi Formosa tại Đài Loan. Điều này khiến tăng trưởng lợi nhuận báo cáo cao hơn đáng kể so với mức tăng của lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cốt lõi.
Ở mảng M&C, doanh thu 6 tháng mới hoàn thành khoảng 35% dự báo cả năm, trong khi lợi nhuận gộp đạt 46% dự báo. Tuy nhiên, triển vọng cải thiện cơ cấu doanh thu được kỳ vọng khi gói thầu EPC#2 của dự án Lô B đã hoàn thành khoảng 95% khối lượng, cho thấy mảng xây lắp đang dần đi qua giai đoạn cao điểm.
Bên cạnh đó, FSO Lạc Đà Vàng đã hoàn tất bàn giao trong quý II/2026 và dự kiến đón dòng khí đầu tiên từ quý IV/2026. Việc đưa dự án vào vận hành được kỳ vọng sẽ bổ sung nguồn thu từ hoạt động cho thuê và dịch vụ, qua đó hỗ trợ cải thiện biên lợi nhuận của PVS.
Trong nửa cuối năm, lợi nhuận cốt lõi của PVS được kỳ vọng cải thiện khi tiến độ các dự án, đặc biệt là Lô B, được đẩy nhanh và khối lượng công việc mảng cơ khí, xây lắp được ghi nhận nhiều hơn.
Về dài hạn, các dự án dầu khí tại Trung Đông, Hải Sư Vàng, Cá Voi Xanh, điện gió ngoài khơi và điện hạt nhân được xem là những động lực có thể mở rộng dư địa tăng trưởng cho PVS trong các năm tới.
Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản của PVS tăng lên 42.939 tỷ đồng, tăng khoảng 11% so với hồi đầu năm. Đáng chú ý, thời điểm này doanh nghiệp sở hữu 11.321 tỷ đồng tiền và các khoản tương đương tiền. Ngoài ra còn có 5.842 tỷ đồng đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn - chủ yếu là tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn. Như vậy, tổng lượng tiền mặt và tiền gửi của PVS đã vượt 17.000 tỷ đồng.