Khơi dòng vốn, tăng sức bền ngân hàng - Bài 2: Tiền gửi tăng, chất lượng tài sản chịu sức ép

Hải Yên 20:06 | 24/08/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Tiền gửi cá nhân vượt 11 triệu tỷ đồng trong khi tín dụng tiếp tục mở rộng cho thấy nguồn lực trong hệ thống ngân hàng vẫn tăng. Tuy nhiên, dòng tiền chưa chuyển hóa đồng đều thành vốn sản xuất, còn nợ xấu và nợ cần chú ý đi lên nhanh hơn dư nợ. Diễn biến này đặt các ngân hàng trước yêu cầu vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa củng cố chất lượng tài sản và khả năng dự phòng rủi ro.

Tiền vào ngân hàng, vốn ra nền kinh tế vẫn phân hóa

Theo số liệu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đến cuối tháng 6/2026, tiền gửi của khách hàng cá nhân tại các tổ chức tín dụng đã vượt 11 triệu tỷ đồng. Riêng trong tháng 6, số dư tiền gửi của khu vực này tăng khoảng 242.000 tỷ đồng; tính chung 6 tháng tăng khoảng 733.000 tỷ đồng. Trong khi đó, tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt khoảng 6,37 triệu tỷ đồng, tăng 3,09% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 203.000 tỷ đồng trong tháng 6.

Khách giao dịch tại Ngân hàng Techcombank. Ảnh: N.H

Nhiều ý kiến cho rằng, tiền gửi tiếp tục tăng cho thấy hệ thống ngân hàng vẫn là kênh nắm giữ tài sản quan trọng của người dân và doanh nghiệp. Trong điều kiện triển vọng của các kênh đầu tư còn phân hóa, tính thanh khoản, mức độ an toàn và mặt bằng lãi suất huy động đã góp phần thu hút dòng tiền trở lại ngân hàng.

Tuy nhiên, tiền gửi tăng không đồng nghĩa toàn bộ nguồn vốn có thể lập tức chuyển thành tín dụng. Trên thực tế, ngân hàng còn phải đáp ứng yêu cầu về dự trữ, thanh khoản, cơ cấu kỳ hạn và các giới hạn an toàn. Khả năng cho vay cũng phụ thuộc vào chất lượng người vay, tính khả thi của phương án kinh doanh và nguồn tiền trả nợ. Vì vậy, nguồn vốn lớn vẫn có thể đi cùng tình trạng một bộ phận doanh nghiệp khó tiếp cận tín dụng.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Ngọc Đức, Viện trưởng Viện Công nghệ tài chính Trường Đại học Đại Nam, nhận xét điểm nghẽn nằm ở quá trình đưa tiền từ ngân hàng vào khu vực sản xuất. Theo ông, ngân hàng có vốn và doanh nghiệp có nhu cầu, nhưng hai phía chưa thực sự gặp nhau. Một số doanh nghiệp cần vốn lại chưa đáp ứng yêu cầu về minh bạch tài chính, tài sản bảo đảm và khả năng trả nợ; trong khi doanh nghiệp có nền tảng tài chính tốt lại thận trọng đầu tư do thị trường đầu ra chưa rõ ràng.

Sự lệch pha này cho thấy, nhu cầu vay và khả năng hấp thụ vốn là hai vấn đề khác nhau. Doanh nghiệp có thể cần tiền để duy trì hoạt động, nhưng ngân hàng chỉ có thể cấp tín dụng khi phương án sử dụng vốn tạo được dòng tiền. Nếu khoản vay mới chủ yếu dùng để đảo vòng nghĩa vụ cũ, rủi ro tài chính có thể tiếp tục tích tụ.

Ở phía doanh nghiệp, ông Lại Hoàng Dương, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Truyền thông và Máy tính Thánh Gióng, cho rằng vấn đề hiện nay không chỉ là lãi suất mà còn là triển vọng thị trường và khả năng hấp thụ vốn. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa sẵn sàng mở rộng đầu tư khi sức mua, đơn hàng và lợi thế cạnh tranh chưa ổn định. Với những đơn vị thực sự cần vay, chi phí vốn cao tiếp tục thu hẹp biên lợi nhuận và làm tăng áp lực trả nợ.

Theo ông Dương, hiệp hội ngành hàng có thể tham gia xác nhận năng lực, đơn hàng và mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp. Ngân hàng cũng có thể giải ngân trực tiếp cho nhà cung cấp nguyên liệu hoặc tài trợ theo khoản phải thu, qua đó kiểm soát mục đích sử dụng vốn và giảm phụ thuộc vào bất động sản thế chấp.

Dữ liệu hỗ trợ ngân hàng đánh giá dòng tiền và kiểm soát rủi ro tín dụng. Ảnh minh họa.

Về phía ngân hàng, dữ liệu hóa đơn điện tử, khai thuế, thanh toán, hàng tồn kho và công nợ có thể hỗ trợ đánh giá dòng tiền, thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm. Cách tiếp cận này không đồng nghĩa hạ chuẩn tín dụng mà đòi hỏi dữ liệu tin cậy, giám sát sau vay và cảnh báo sớm hiệu quả hơn.

Sự phân hóa trong khả năng hấp thụ vốn cũng là điểm nối trực tiếp với chất lượng tài sản ngân hàng. Khi vốn vay chưa chuyển hóa thành doanh thu và dòng tiền, áp lực trả nợ sẽ dần phản ánh qua nợ cần chú ý, nợ xấu và chi phí dự phòng.

Nợ nhóm 2 báo hiệu áp lực chưa kết thúc

Theo dữ liệu VietstockFinance, dư nợ cho vay của 29 ngân hàng công bố báo cáo tài chính quý II tăng 8,48%, lên 17,49 triệu tỷ đồng. Trong khi đó, nợ xấu tăng 17,47%, đạt 337.566 tỷ đồng, đưa tỷ lệ nợ xấu từ 1,8% lên 1,93%. Nợ nhóm 5 chiếm hơn 59% tổng nợ xấu. Tuy nhiên, số ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu trên 3% giảm từ 9 xuống 6, cho thấy rủi ro vẫn phân hóa.

Nếu nợ xấu phản ánh rủi ro đã hiện hữu, nợ nhóm 2 cho thấy áp lực trong các quý tới. Theo báo cáo phân tích của Công ty Chứng khoán Rồng Việt, nợ nhóm 2 tăng từ 1,23% lên 1,37% dư nợ, tương đương hơn 212.000 tỷ đồng. Nợ nhóm 2 hình thành ròng trong quý II đạt gần 81.000 tỷ đồng, mức cao nhất kể từ quý I/2023. Nếu dòng tiền không cải thiện, một phần các khoản vay này có thể chuyển thành nợ xấu, buộc ngân hàng tăng dự phòng và thận trọng hơn khi mở rộng tín dụng.

Ông Bùi Văn Huy, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Giám đốc Khối Nghiên cứu đầu tư Công ty cổ phần FIDT, cho rằng nợ xấu tăng chưa đồng nghĩa chính sách hỗ trợ tín dụng không hiệu quả. Tín dụng phản ứng khá nhanh với việc cải thiện thanh khoản, còn nợ xấu thường phản ánh khó khăn đã tích tụ từ trước. Không ít doanh nghiệp có doanh thu nhưng dòng tiền chưa cải thiện do tồn kho, công nợ kéo dài và chi phí vay tăng.

Tiền vào ngân hàng, vốn ra nền kinh tế vẫn phân hóa.

Độ trễ này kéo theo áp lực dự phòng. Theo đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong quý II đạt hơn 43.000 tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với quý trước, điều này cũng đã làm giảm kết quả kinh doanh tại một số ngân hàng. Cùng với đó, dữ liệu FIDT chỉ rõ, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của nhóm ngân hàng được theo dõi giảm từ 91,65% cuối năm 2025 xuống 84,5% vào cuối quý II. Nếu nợ nhóm 2 tiếp tục chuyển nhóm, các ngân hàng có tỷ lệ bao phủ thấp sẽ phải dành thêm lợi nhuận để xử lý rủi ro.

Triển vọng chất lượng tài sản vì thế phụ thuộc vào sự phục hồi của sản xuất, tiêu dùng và đầu tư. Theo các chuyên gia kinh tế - tài chính, giải ngân đầu tư công, tháo gỡ vướng mắc dự án và mở rộng thị trường đầu ra có thể giúp doanh nghiệp tăng doanh thu, rút ngắn vòng quay vốn.

Tuy nhiên, tiền gửi tăng giúp hệ thống ngân hàng có thêm nguồn vốn, nhưng chất lượng tín dụng vẫn được quyết định bởi khả năng tạo tiền của khu vực sản xuất, kinh doanh. Chỉ khi vốn vay chuyển thành doanh thu và nguồn trả nợ, ngân hàng mới có thể mở rộng tín dụng mà vẫn bảo đảm an toàn tài chính.

Yêu cầu này đòi hỏi ngân hàng phải hiểu rõ hơn hoạt động của khách hàng, theo dõi dòng tiền và nhận diện sớm khoản vay có nguy cơ suy giảm. Dữ liệu và trí tuệ nhân tạo vì thế không chỉ phục vụ số hóa dịch vụ, mà đang trở thành nền tảng để nâng chất lượng tín dụng và sức chống chịu của hệ thống.

Bài cuối: Dữ liệu dẫn lối, an toàn đi trước