Kinh tế 4 tháng đầu năm 2026: Áp lực bên ngoài gia tăng, nội lực tạo dư địa bứt phá
Đầu tư công và FDI giữ vai trò trụ cột
Theo Chứng khoán Yuanta Việt Nam, đầu tư công tiếp tục là động lực quan trọng của nền kinh tế trong tháng 4/2026. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước đạt 54,8 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng đạt 187,1 nghìn tỷ đồng, tương đương 19,7% kế hoạch năm và tăng 10,4%.
Giải ngân đầu tư công vẫn là động lực quan trọng cho tăng trưởng trong 2026 với kỳ vọng tốc độ giải ngân đầu tư công sẽ nhanh hơn trong những tháng tới. Thủ tướng đã chỉ đạo Bộ xây dựng khẩn trương hoàn tất công tác chuẩn bị đầu tư các dự án hạ tầng, đặc biệt là Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam và các tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc. Đồng thời, yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các dự án trọng điểm như sân bay Long Thành, Gia Bình...
Song song đó, dòng vốn FDI tiếp tục là điểm sáng của nền kinh tế. Dù trong tháng 4 có dấu hiệu chững lại với vốn đăng ký đạt 3,04 tỷ USD, giảm mạnh so với tháng trước, nhưng tính chung 4 tháng, tổng vốn đăng ký vẫn đạt 18,24 tỷ USD, tăng 32% so với cùng kỳ. Vốn cấp mới và góp vốn, mua cổ phần tăng mạnh, trong khi vốn giải ngân đạt 7,4 tỷ USD, tăng gần 10%, cho thấy dòng vốn thực vẫn ổn định.
Đáng chú ý, lĩnh vực chế biến, chế tạo tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn, khẳng định vai trò trung tâm của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Tuy nhiên, việc vốn điều chỉnh giảm mạnh phản ánh tâm lý thận trọng của các nhà đầu tư hiện hữu trước những bất định về chi phí và thị trường xuất khẩu.
Thương mại tăng trưởng mạnh nhưng nhập siêu quay trở lại
Trong tháng 4/2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 94,32 tỷ USD, tăng mạnh 26,7% YoY. Trong đó, xuất khẩu đạt 45,52 tỷ USD, nhập khẩu đạt 48,8 tỷ USD lần lượt tăng 21% và 32% YoY. Cán cân thương mại ghi nhận nhập siêu 3,28 tỷ USD trong tháng 4, nâng mức nhập siêu lũy kế 4 tháng đầu năm lên 7,11 tỷ USD, đảo chiều đáng kể so với mức xuất siêu 4,3 tỷ USD cùng kỳ năm 2025.
Qua đó, lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu đạt 168,53 tỷ USD, tăng 19,7% YoY, với động lực chính đến từ các nhóm hàng công nghệ như điện tử, máy tính và linh kiện đạt 43,62 tỷ USD (tăng 49,1%); điện thoại và linh kiện đạt 21,55 tỷ USD (tăng 21,1%); máy móc thiết bị đạt 20,6 tỷ USD (tăng 20,5%). Tuy nhiên, một số ngành xuất khẩu truyền thống vẫn gặp khó khăn như giày dép giảm 3,8% và gỗ, sản phẩm gỗ giảm 1,1%.
Về kim ngạch nhập khẩu, 4 tháng ghi nhận đạt 175,64 tỷ USD, tăng mạnh 28,7% YoY, chủ yếu đến từ khu vực FDI với mức tăng 32,3%. Nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất tiếp tục tăng mạnh, đặc biệt là điện tử, máy tính và linh kiện đạt 65,27 tỷ USD (tăng 52,3%) và máy móc thiết bị đạt 21,1 tỷ USD (tăng 20,2%).
Sản xuất công nghiệp tăng trưởng nhưng đối mặt thách thức
Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà phục hồi với mức tăng 9,9% trong tháng 4 và 9,2% trong 4 tháng đầu năm. Ngành chế biến, chế tạo vẫn là động lực chính, cùng với sự cải thiện ở điện và khai khoáng. Nhiều ngành ghi nhận tăng trưởng cao như hóa chất, kim loại, vật liệu xây dựng và sản xuất ô tô.
Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trong tháng 4 nhưng triển vọng kém thuận lợi đang dần rõ hơn. Theo báo cáo S&P Global, chỉ số PMI tháng 4 tiếp tục giảm về mức 50.5 điểm, thấp nhất trong 7 tháng. Đáng chú ý, chi phí đầu vào tăng nhanh nhất trong 15 năm, đơn hàng mới giảm lần đầu trong 8 tháng, đơn hàng xuất khẩu giảm tháng thứ hai liên tiếp và giá bán đầu ra cũng tăng nhanh nhất kể từ tháng 4/2021. Điều này cho thấy dù lĩnh vực sản xuất vẫn mở rộng, nhưng động lực tăng đang chậm dần lại bởi áp lực chi phí, logistics và bất ổn nguồn cung
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2026 đạt 646,3 nghìn tỷ đồng, tăng 1,7% so với tháng trước và 12,1% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng đầu năm đạt 2.546,6 nghìn tỷ đồng, tăng 11,1%, trong đó bán lẻ hàng hóa tăng 11,1%, dịch vụ lưu trú – ăn uống tăng 13,4% và du lịch lữ hành tăng 12,1%.
Động lực tăng trưởng tiêu dùng tiếp tục đến từ nhóm hàng thiết yếu và dịch vụ, đặc biệt trong bối cảnh các kỳ nghỉ lễ và sự phục hồi mạnh của du lịch. Lượng khách quốc tế tháng 4 đạt 2,03 triệu lượt, tăng 22,8% so với cùng kỳ, nâng tổng 4 tháng lên 8,8 triệu lượt – mức cao kỷ lục, với sự gia tăng mạnh từ thị trường Trung Quốc và châu Âu.
Tuy nhiên, khi loại trừ yếu tố giá, tăng trưởng tiêu dùng thực có dấu hiệu chậm lại, chỉ đạt 6,3% trong 4 tháng, thấp hơn đáng kể so với mức tăng danh nghĩa. Điều này cho thấy áp lực giá đang ảnh hưởng rõ hơn đến sức mua. Dù triển vọng tiêu dùng ngắn hạn vẫn tích cực nhờ du lịch và yếu tố mùa vụ, lạm phát gia tăng có thể tiếp tục là rủi ro đối với sức cầu trong thời gian tới.
Thị trường tiền tệ trong tháng 4/2026 ghi nhận diễn biến tích cực hơn khi áp lực thanh khoản hạ nhiệt so với cuối tháng 3, dù mặt bằng lãi suất vẫn ở mức cao. Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 19,5 nghìn tỷ đồng, qua đó đưa dư nợ OMO lưu hành lên 309,6 nghìn tỷ đồng vào cuối tháng.
Lãi suất liên ngân hàng giảm rõ rệt trong nửa cuối tháng, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn; lãi suất qua đêm về mức 3,88%, giảm mạnh so với cuối tháng trước, trong khi các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần cũng lần lượt giảm về 5,9% và 6,42%. Song song đó, lãi suất huy động trên thị trường dân cư cũng hạ nhiệt khi nhiều ngân hàng điều chỉnh giảm theo định hướng của cơ quan quản lý.
"Tuy nhiên, xu hướng giảm lãi suất được đánh giá chưa thực sự bền vững. Áp lực từ lạm phát gia tăng, nhập siêu mở rộng và biến động tỷ giá sẽ khiến cơ quan điều hành tiếp tục thận trọng trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ. Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng đang tăng tốc, đạt 3,83% tính đến ngày 21/4, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ được duy trì ổn định trong quý II/2026 thay vì giảm sâu như kỳ vọng trước đó", Chứng khoán Yuanta Việt Nam phân tích.
Theo Chứng khoán Mirae Asset, áp lực lạm phát ngắn hạn do chiến tranh Trung Đông: CPI tháng 4 tăng 5,46% so với cùng kỳ, cao hơn mức 4,65% của tháng 3. Tính chung 4 tháng đầu năm, CPI và CPI cơ bản tăng lần lượt 3,99% và 3,89% YoY, với áp lực chính đến từ các nhóm sau:
Lương thực thực phẩm (chiếm 34%): Tăng 4,71% chịu áp lực từ chi phí đầu vào. Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (chiếm 19%): Tăng cao nhất ở mức 6,25% do giá gas và dầu hỏa tăng mạnh bám sát xu hướng giá năng lượng thế giới.
Giao thông (chiếm 10%): Tăng 3,48% trực tiếp do giá xăng dầu thế giới neo ở mức cao. Giáo dục (chiếm 6%): Tăng 3,25%, xuất phát từ việc Nhà nước điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục (như học phí) theo đúng lộ trình.
Theo Mirae Asset, dự báo trung bình cả năm 2026: Trong kịch bản tích cực, lạm phát vẫn có thể được kiểm soát ở mức mục tiêu ban đầu là 4,5%. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước: 3 kịch bản lạm phát tăng ở mức 4,5%; 5% và 5,5%. Dự báo lạm phát của 19 tổ chức quốc tế: Dự báo trong khoảng 3,4% đến 5,1%, với mức trung bình là 4,3%.