Lãi suất giảm trong kịch bản nào?
Tính đến cuối tháng 5/2026, số liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 5,71% so với đầu năm, vượt mức tăng 2,98% của huy động. Trong bối cảnh chênh lệch tín dụng - huy động tiếp tục nới rộng, mặt bằng lãi suất duy trì ở mức nền cao.
Nhiều yếu tố gây áp lực thanh khoản
“Tỷ lệ tín dụng trên GDP hiện ở mức trên 140%. Tiền trong thị trường nhiều song vòng quay thì chậm… Câu hỏi ở đây không phải nền kinh tế có thiếu tiền hay không mà là nền kinh tế có chỗ để giải ngân tiền hay không?”, ông Nguyễn Duy Linh, Tổng Giám đốc CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) đặt vấn đề tại phiên thảo luận về kinh tế vĩ mô trong khuôn khổ sự kiện Vietnam Investment Forum - Summer Summit.
Ông Linh dẫn số liệu từ Cục Thống kê cho biết 5 tháng đầu năm 2026, thu ngân sách Nhà nước đạt 53% kế hoạch, tương đương 1,3 triệu tỷ đồng trong khi chi ngân sách mới đạt 22% dự toán.
Ông Nguyễn Duy Linh, Tổng Giám đốc CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS)
“Câu hỏi đặt ra là tiền nằm ở đâu? Thì theo tôi nghĩ nó nằm ở một số điểm. Thứ nhất là nằm ở các tài sản thanh khoản kém trong chu kỳ mà chúng ta đã và đang phải xử lý của các năm trước, như trái phiếu. Thứ hai là ở các dự án vẫn đang cần tháo gỡ về mặt pháp lý”, CEO SHS cho hay.
Và quan trọng hơn là tâm lý của các chủ thể tham gia nền kinh tế: doanh nghiệp chưa thực sự mạnh dạn đầu tư mà hướng nhiều hơn đến phòng thủ, người dân giữ tiền mặt nhiều hơn với tâm lý thận trọng trước các biến số khó lường…
Đây cũng chính là một số nguyên nhân khiến thanh khoản hệ thống căng thẳng trong thời gian qua, bên cạnh vấn đề chênh lệch giữa tín dụng và huy động.
Đồng quan điểm với ông Nguyễn Duy Linh, ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright dẫn số liệu từ NHNN cho thấy nếu như trong giai đoạn trước, tiền mặt ngoài hệ thống ngân hàng chỉ chiếm khoảng 9% tổng phương tiện thanh toán thì thời gian gần đây đã tăng đột biến lên 11%.
Ông Nguyễn Xuân Thành, Giảng viên cao cấp Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright
Mức tăng 2 điểm % quy đổi ra khoảng 13 tỷ USD, tức người dân và tổ chức đang tăng đột biến việc giữ tiền mặt ngoài hệ thống. Nguyên nhân có thể đến từ nhiều yếu tố: bất ổn địa chính trị toàn cầu dẫn đến tâm lý thận trọng, các thay đổi trong chính sách thuế quan…
Một yếu tố khác cũng có thể tác động khiến thanh khoản thắt chặt là việc tiến độ giải ngân đầu tư công chưa cao như kỳ vọng cùng với bội thu ngân sách dẫn đến số dư trong KBNN lớn. Về vấn đề này, NHNN gần đây đã có Thông tư 08 cho phép ngân hàng thương mại được cộng 20% tiền gửi có kỳ hạn của KBNN vào nguồn vốn huy động khi tính tỷ lệ LDR - điều được kỳ vọng sẽ phần nào hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Đến cuối quý I, chuyên gia Nguyễn Xuân Thành ước tính cung tiền M2 mới tăng 1% trong khi tín dụng tăng 3,2%.
Đáng chú ý, theo ước tính của chuyên gia kinh tế từ Fulbright, trong khi tăng trưởng tín dụng 5 tháng đầu năm ước đạt 5,72%, tổng cung tiền chỉ tăng khoảng 2,5-2,6%.
“NHNN kiểm soát chặt cung tiền bởi kinh nghiệm xương máu là cứ tăng thanh khoản thì "chết" tỷ giá, trong khi dư địa của chúng ta để dùng ngoại hối hỗ trợ tỷ giá là khó khăn. Kinh tế toàn cầu có thể còn nhiều biến động nên rất cần thận trọng.
Mục tiêu tăng trưởng tín dụng của các tổ chức tín dụng vẫn ở mức cao trong khi cung tiền không tăng nhiều, do đó tỷ lệ LDR của nhiều ngân hàng hiện đã vượt 100%”, ông Thành phân tích.
Tỷ lệ LDR hệ thống đạt gần 112% tại cuối quý I/2026, theo chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Thành.
Lãi suất trước mắt khó giảm
Trong bối cảnh áp lực thanh khoản, lãi suất thời gian qua đã tăng cả ở thị trường 1 và thị trường liên ngân hàng.
Ông Thành nhận định khó có kịch bản lãi suất hạ trong ngắn hạn, tuy nhiên có thể tính đến phương án để giữ lãi suất không tiếp tục tăng.
Theo chuyên gia, với nền kinh tế Việt Nam hiện nay, tác động từ cú sốc lạm phát và mặt bằng lãi suất toàn cầu ở mức cao thời gian qua vẫn nằm trong tầm kiểm soát của nhà điều hành. Yếu tố then chốt lúc này là bài toán lựa chọn: duy trì lãi suất nội địa cao để hỗ trợ tỷ giá, hoặc nếu giảm lãi suất để hướng tới mục tiêu tăng trưởng thì có thể chấp nhận VND mất giá.
“Đến thời điểm này, chúng ta vẫn đang điều hành theo hướng dù không mong muốn nhưng chấp nhận mặt bằng lãi suất cao, và nếu duy trì như vậy thì không lo áp lực tỷ giá. Nhưng cũng có một kịch bản là từ giờ đến cuối năm, nếu nhà điều hành chuyển hướng để tạo thêm thanh khoản cho thị trường thì áp lực của tỷ giá sẽ cao lên”, ông Thành phân tích.
Thực tế trong nửa đầu năm, tỷ giá VND vẫn duy trì ổn định so với nhiều đồng tiền trong khu vực biến động mạnh. Do vậy, theo chuyên gia từ Fulbright, nhà điều hành có thể cũng sẵn sàng cho kịch bản VND mất giá trong tầm kiểm soát để đảm bảo không quá thắt chặt tiền tệ.
“Có thể phải chấp nhận để tỷ giá điều chỉnh phần nào, làm sao để chính sách tiền tệ không quá thắt chặt nhưng vẫn duy trì một mức lãi suất hợp lý… Nhưng trên thực tế, vẫn cần một nền lãi suất tiền gửi hấp dẫn để người dân giữ tiền gửi trong hệ thống ngân hàng, đó tiếp tục là một thách thức”, ông Thành nói thêm.
Trong bối cảnh điều hành chính sách tiền tệ năm nay, tăng trưởng tín dụng nói chung cũng như tăng trưởng tín dụng một số ngành và lĩnh vực sẽ chậm hơn năm trước. Tuy nhiên, vị chuyên gia nhấn mạnh để mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam trong năm nay cũng như các năm tiếp theo cần được xây dựng dựa trên việc tìm kiếm những động lực mới thay vì những động lực tiềm ẩn rủi ro.
Cũng theo ông Thành, ở một kịch bản lạc quan nhất, nếu giá dầu có thể quay về mức khoảng 80 USD/ thùng nhờ nỗ lực đàm phán của các bên, dẫn đến không cần quá lo về lạm phát từ nay đến cuối năm; và nếu giá vàng vẫn thấp như hiện nay để hỗ trợ tỷ giá thì NHNN sẽ có một phần dư địa để kéo giảm mặt bằng lãi suất.