Lãi suất huy động phân hóa sau Quyết định 1743
Lãi suất huy động phân hóa sau Quyết định 1743. Ảnh minh họa
Mở rộng dư địa tín dụng từ nguồn tiền Kho bạc Nhà nước
Bước vào quý III/2026, điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục đứng trước yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng nhưng vẫn phải giữ ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tỷ giá. Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 của Chính phủ đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm từ 10% trở lên, đồng thời yêu cầu các bộ, ngành đẩy nhanh giải ngân đầu tư công và khơi thông nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh.
Theo ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), thị trường ngoại tệ và tỷ giá trong năm 2026 chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoài, trong đó có diễn biến chính sách lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và những thay đổi trong chính sách thương mại toàn cầu. Điều này khiến dư địa điều hành lãi suất cần được cân nhắc trong mối quan hệ với mục tiêu ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát.
Trong bối cảnh đó, tốc độ tăng tín dụng cao hơn huy động vốn đặt ra áp lực cân đối nguồn vốn cho hệ thống ngân hàng. Theo số liệu của NHNN, đến cuối tháng 6/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 19,97 triệu tỷ đồng, trong khi huy động vốn ở mức khoảng 17,34 triệu tỷ đồng. Khoảng cách giữa tín dụng và huy động vốn lên tới 2,63 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 550.000 tỷ đồng so với cuối năm 2025.
NHNN cũng cho biết, đến giữa tháng 7/2026, dư nợ toàn hệ thống đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm trước. Khi nguồn vốn huy động không tăng tương ứng, một số ngân hàng phải tăng vay mượn trên thị trường liên ngân hàng hoặc điều chỉnh lãi suất tiền gửi để bảo đảm khả năng đáp ứng nhu cầu tín dụng.
Tiến sĩ Hồ Sỹ Hòa, Giám đốc Nghiên cứu và Tư vấn đầu tư Công ty Chứng khoán DNSE, cho rằng chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn có thể tạo áp lực lên thanh khoản hệ thống. Khi khả năng cung ứng ngoại tệ và tốc độ tăng tiền gửi chậm lại, lãi suất liên ngân hàng cũng như lãi suất huy động có thể chịu sức ép, nhất là tại những ngân hàng có nhu cầu vốn cao.
Thị trường ngoại tệ và tỷ giá trong năm 2026 chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố bên ngoài. Ảnh minh họa
Trước tình hình trên, ngày 30/7/2026, NHNN ban hành Quyết định số 1743/QĐ-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/8/2026 đến hết ngày 31/7/2028. Nội dung chính là giảm tỷ lệ khấu trừ số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước (KBNN) từ 80% xuống 50% khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi, thường được gọi là tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR).
Theo cách tính trước đó, ngân hàng chỉ được ghi nhận 20% tiền gửi có kỳ hạn của KBNN vào tổng tiền gửi làm căn cứ tính LDR. Khi tỷ lệ khấu trừ giảm xuống 50%, phần tiền gửi KBNN được tính vào mẫu số tăng lên 50%. Như vậy, tỷ lệ được ghi nhận tăng thêm 30 điểm phần trăm.
Sự thay đổi này không làm phát sinh thêm tiền gửi mới và cũng không phải là hoạt động NHNN trực tiếp bơm tiền vào hệ thống. Tác động chủ yếu nằm ở phương pháp tính chỉ tiêu an toàn: Mẫu số LDR được mở rộng, giúp những ngân hàng đang nắm giữ tiền gửi KBNN có thêm khoảng trống để cho vay mà không vượt giới hạn quy định.
Đối tượng hưởng lợi rõ nhất là nhóm bốn ngân hàng thương mại Nhà nước gồm Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank. Theo số liệu mới nhất của NHNN, đến cuối tháng 3/2026, tiền gửi KBNN tại các tổ chức tín dụng đạt 626.716 tỷ đồng, trong đó 624.167 tỷ đồng, tương đương 99,59%, nằm tại nhóm bốn ngân hàng này.
Với việc được tính thêm 30% số dư tiền gửi KBNN, khoảng 188.000 tỷ đồng được bổ sung vào mẫu số LDR của nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước. Nếu áp dụng giới hạn LDR 85%, phần tăng thêm này có thể tạo khoảng 160.000 tỷ đồng dư địa cho vay.
Phân tích về tác động của Quyết định 1743,chuyên gia Chu Tuấn Phong cho biết, đây là dư địa phát sinh từ việc thay đổi phương pháp tính chỉ tiêu, không phải 160.000 tỷ đồng tiền mới được đưa vào hệ thống. Vì vậy, việc mở rộng cho vay vẫn phải dựa trên khả năng cân đối vốn, chất lượng tín dụng, nhu cầu vay thực tế và các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng.
Trước khi Quyết định 1743 được ban hành, tỷ lệ LDR của bốn ngân hàng thương mại Nhà nước đã tiến gần mức giới hạn. Tính đến ngày 31/3/2026, tỷ lệ này tại Vietcombank là 84,54%, VietinBank 83,48%, Agribank 83,28% và BIDV 82,94%.
Việc điều chỉnh cách tính giúp nhóm ngân hàng trên giảm áp lực phải tăng mạnh lãi suất huy động để thu hút thêm tiền gửi trong ngắn hạn. Đồng thời, các ngân hàng có thể chủ động hơn trong phân bổ vốn cho sản xuất, kinh doanh, các dự án đầu tư công, hạ tầng và những lĩnh vực được ưu tiên.
Tuy nhiên, lợi ích từ chính sách không phân bổ đồng đều cho toàn hệ thống. Phần lớn ngân hàng thương mại cổ phần không nắm giữ đáng kể nguồn tiền KBNN, do đó không được mở rộng mẫu số LDR ở mức tương đương. Những ngân hàng này vẫn phải dựa chủ yếu vào tiền gửi dân cư, doanh nghiệp, phát hành giấy tờ có giá hoặc huy động trên thị trường vốn để đáp ứng nhu cầu cho vay.
Sự khác biệt về nguồn vốn là cơ sở khiến cạnh tranh huy động giữa các nhóm ngân hàng có thể tiếp tục phân hóa trong những tháng cuối năm.
Lãi suất khó giảm đồng loạt, áp lực thanh khoản có thể trở lại
Khi có thêm dư địa LDR, nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước có thể giảm nhu cầu mua vốn với giá cao. Quá trình này thường được truyền dẫn qua cơ chế giá điều chuyển vốn nội bộ, gọi tắt là FTP (viết tắt của “Funds Transfer Pricing”).
Giao dịch tại ngân hàng Vietinbank. Ảnh: NH
FTP là mức giá hội sở sử dụng để mua và bán vốn nội bộ với các chi nhánh, qua đó định hướng hoạt động huy động và cho vay. Khi ngân hàng thiếu nguồn vốn kỳ hạn dài, giá mua vốn nội bộ được nâng lên để khuyến khích chi nhánh tăng huy động. Ngược lại, khi áp lực LDR giảm, ngân hàng có thể hạ giá mua vốn, khiến nhu cầu chào lãi suất cao cho khách hàng lớn giảm theo.
Theo phân tích của ông Chu Tuấn Phong, việc mở rộng mẫu số LDR có thể khiến khối nguồn vốn tại nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước giảm giá mua vốn nội bộ ở một số kỳ hạn. Khi nhu cầu huy động giảm, các chi nhánh cũng có ít động lực hơn trong việc chào lãi suất thỏa thuận cao cho khách hàng gửi số tiền lớn.
Tác động này trước hết có thể xuất hiện tại nhóm bốn ngân hàng thương mại Nhà nước, nơi tập trung gần như toàn bộ tiền gửi KBNN trong hệ thống. Các ngân hàng này có điều kiện duy trì lãi suất huy động ở mức thấp hơn và giảm sự phụ thuộc vào việc tăng lãi suất để cạnh tranh tiền gửi.
Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại cổ phần vẫn phải huy động vốn theo giá thị trường. Nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh, những ngân hàng có tỷ lệ LDR cao hoặc cơ cấu nguồn vốn chưa ổn định sẽ phải duy trì lãi suất ở mức cạnh tranh để giữ chân người gửi tiền.
Theo biểu lãi suất được các ngân hàng công bố đầu tháng 8/2026, lãi suất huy động kỳ hạn ngắn tại nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước phổ biến trong khoảng 2,6 - 2,9%/năm, trong khi một số ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết lãi suất cao hơn đáng kể tại các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên.
Tuy nhiên, các mức lãi suất 7,8 - 9%/năm chủ yếu là lãi suất thỏa thuận hoặc áp dụng cho những khoản tiền gửi lớn, kèm điều kiện riêng. Đây không phải mặt bằng áp dụng phổ biến cho mọi khách hàng.
Ông Chu Tuấn Phong nhận định, Quyết định 1743 không nhất thiết kéo lãi suất huy động toàn thị trường giảm đồng loạt. Diễn biến dễ nhận thấy hơn có thể là khoảng cách lãi suất giữa các nhóm ngân hàng tiếp tục mở rộng. Nhóm có nguồn tiền KBNN duy trì lãi suất thấp, trong khi các ngân hàng cần bổ sung nguồn vốn vẫn phải trả lãi suất cao hơn.
Diễn biến trên thị trường liên ngân hàng cũng cho thấy sự khác biệt giữa thanh khoản rất ngắn hạn và nhu cầu vốn có kỳ hạn. Cụ thể, lãi suất qua đêm ngày 28/7/2026 ở mức 2,2%/năm, trong khi kỳ hạn một tuần, hai tuần và một tháng lần lượt là 4,55%, 5,3% và 6,9%/năm. Khoảng cách lớn giữa các kỳ hạn phản ánh vốn ngắn hạn có thể tương đối dồi dào, nhưng nguồn vốn kỳ hạn dài hơn vẫn chịu áp lực.
Theo ông Chu Tuấn Phong, khoảng cách lớn giữa lãi suất qua đêm và lãi suất kỳ hạn dài hơn cho thấy nguồn vốn rất ngắn hạn có thể tương đối dồi dào, nhưng nhu cầu vốn có kỳ hạn vẫn chịu áp lực. Vì vậy, việc lãi suất qua đêm giảm không đồng nghĩa áp lực huy động vốn của toàn hệ thống đã được giải quyết.
Một vấn đề cần lưu ý là tiền gửi KBNN không phải nguồn vốn ổn định như tiền gửi tiết kiệm dài hạn của dân cư. Đây là tiền ngân sách tạm thời chưa sử dụng, có thể được rút ra khi tiến độ giải ngân đầu tư công tăng tốc.
Nghị quyết 168/NQ-CP yêu cầu thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công trong những tháng còn lại của năm để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng. Khi KBNN chuyển tiền thanh toán cho các dự án và nhà thầu, số dư tại ngân hàng sẽ giảm. Phần mẫu số LDR được bổ sung từ nguồn tiền này cũng thu hẹp tương ứng.
Ông Chu Tuấn Phong cho rằng, áp lực thanh khoản có thể rõ hơn vào quý IV/2026 và đầu năm 2027, khi KBNN tăng rút tiền để giải ngân, trong khi nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp thường tăng vào mùa sản xuất, kinh doanh cuối năm. Những ngân hàng đã sử dụng phần lớn dư địa LDR mới để cho vay có thể phải quay lại thị trường huy động nhằm bổ sung nguồn vốn.
Nếu nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước cùng tăng nhu cầu huy động trong thời gian ngắn, cạnh tranh tiền gửi có thể mạnh hơn, tạo áp lực lên lãi suất. Điều này cho thấy Quyết định 1743 giúp tháo gỡ một phần ràng buộc kỹ thuật trong trước mắt, nhưng không làm mất đi yêu cầu cân đối kỳ hạn và duy trì dự trữ thanh khoản.
Trước tình hình trên, NHNN yêu cầu các ngân hàng nhận tiền gửi KBNN phải tự theo dõi chênh lệch kỳ hạn, bảo đảm khả năng thanh toán ngay cả khi KBNN rút tiền trước hạn. Đây là nguyên tắc quan trọng nhằm hạn chế việc sử dụng nguồn vốn tạm thời để tài trợ quá mức cho các khoản vay trung và dài hạn.
Ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, việc đa dạng hóa nguồn huy động đang được chú trọng để giảm sự phụ thuộc vào tiền gửi ngắn hạn. VPBank cho biết ngân hàng đã đẩy mạnh huy động đa kênh nhằm bảo đảm an toàn thanh khoản. Kết thúc nửa đầu năm 2026, tổng tài sản hợp nhất của VPBank vượt 1,5 triệu tỷ đồng, tăng 19,2% so với cuối năm 2025.
Ông Vũ Minh Trường, Phó Tổng giám đốc kiêm Giám đốc Khối Nguồn vốn và Thị trường tài chính VPBank, chia sẻ rằng huy động từ khách hàng và giấy tờ có giá là một trong những nguồn lực quan trọng để ngân hàng đáp ứng nhu cầu tăng trưởng. Việc sử dụng chứng chỉ tiền gửi và mở rộng các kênh huy động quốc tế cũng giúp ngân hàng chủ động hơn trong cân đối kỳ hạn nguồn vốn.
Về phía ngân hàng, dư địa tín dụng mới cần được sử dụng thận trọng, tập trung vào những lĩnh vực có khả năng hấp thụ vốn và trả nợ. Việc tăng cho vay chỉ dựa trên thay đổi cách tính LDR, trong khi không cải thiện chất lượng nguồn vốn, có thể làm gia tăng rủi ro nếu tiến độ giải ngân và thu hồi vốn không phù hợp.
Đối với người gửi tiền, sự phân hóa lãi suất tạo thêm lựa chọn nhưng cũng đòi hỏi cân nhắc đồng thời mức lãi, kỳ hạn, điều kiện rút trước hạn và mức độ an toàn của tổ chức tín dụng. Lãi suất cao hơn thường đi kèm yêu cầu về số tiền gửi, thời gian nắm giữ hoặc điều kiện sản phẩm, không nên được xem là tiêu chí duy nhất khi lựa chọn ngân hàng.
Có thể thấy, Quyết định 1743 tạo thêm khoảng trống để hệ thống ngân hàng hỗ trợ tăng trưởng tín dụng trong giai đoạn 2026 - 2028. Tuy vậy, hiệu quả của chính sách phụ thuộc vào tiến độ giải ngân đầu tư công, khả năng quản trị nguồn vốn của từng ngân hàng và sự cân đối giữa tốc độ tăng tín dụng với huy động. Trong điều kiện đó, mặt bằng lãi suất có thể không giảm đồng đều mà tiếp tục khác biệt rõ giữa các nhóm ngân hàng.