Lao động trẻ chủ yếu làm thuê, sinh viên muốn khởi nghiệp nhưng chưa sẵn sàng làm chủ

TS Đặng Vũ Cảnh Linh 14:33 | 06/11/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Khảo sát tại Hải Phòng, Đà Nẵng và TP HCM cho thấy 79,7% thanh niên đang làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân là lao động hưởng lương, trong khi 86,3% có thu nhập dưới 12 triệu đồng/tháng. Với nhóm sinh viên, dù 88,7% chưa loại trừ khả năng khởi nghiệp, chỉ 16% xác định chắc chắn muốn theo đuổi con đường này.

Cuộc khảo sát trong báo cáo “Điều tra về thanh niên phát triển kinh tế tư nhân 2026” được thực hiện tại Hải Phòng, Đà Nẵng và TP HCM, với hai nhóm đối tượng gồm 600 thanh niên đang làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân và 150 sinh viên.

Phần lớn thanh niên làm công ăn lương, thu nhập dưới 12 triệu đồng

Trong nhóm 600 thanh niên đang làm việc được khảo sát, 79,7% là lao động hưởng lương tại các doanh nghiệp tư nhân. Nhóm làm việc tại hộ kinh doanh và cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tư nhân chiếm 8,3%.

Ở chiều ngược lại, tỷ lệ thanh niên tham gia kinh tế tư nhân với vai trò chủ thể kinh doanh còn khá khiêm tốn. Trong mẫu khảo sát, 2,5% là chủ hộ kinh doanh cá thể, 2% là nhà đầu tư hoặc chủ doanh nghiệp tư nhân, 1,2% giữ vị trí giám đốc điều hành được thuê và 0,3% là người sáng lập hoặc đồng sáng lập startup. 

Số lượng lao động hưởng lương tại các doanh nghiệp tư nhân chiếm phần lớn

Xét theo lĩnh vực hoạt động, nhóm ngành ăn uống, lưu trú và du lịch chiếm 35,4%; công nghiệp, chế biến, chế tạo chiếm 32,1%. Hai nhóm ngành này cộng lại chiếm 67,5% số thanh niên tham gia khảo sát.

Về thu nhập, 42,5% người được hỏi cho biết nhận từ 8 triệu đến dưới 12 triệu đồng/tháng; 36,9% có thu nhập từ 5 triệu đến dưới 8 triệu đồng; 6,9% nhận dưới 5 triệu đồng. Như vậy, tổng cộng 86,3% thanh niên trong mẫu khảo sát có thu nhập dưới 12 triệu đồng/tháng. Tỷ lệ có thu nhập từ 20 triệu đồng/tháng trở lên là 4,5%.

86,3% thanh niên khảo sát có thu nhập dưới 12 triệu đồng/tháng

Bên cạnh thu nhập, áp lực công việc và tính ổn định của nguồn thu cũng là những vấn đề được người tham gia khảo sát đề cập. Có 43,6% cho biết áp lực công việc ở mức cao, trong khi 39,2% gặp khó khăn do thu nhập không ổn định. Cạnh tranh gay gắt cũng được 25% người trả lời xem là một khó khăn.

Dù vậy, 53,9% số người được hỏi đánh giá công việc hoặc hoạt động kinh doanh hiện tại ổn định hoặc rất ổn định. Kết quả này cho thấy trải nghiệm của lao động trẻ trong khu vực tư nhân có sự khác biệt, tùy thuộc vào công việc và điều kiện làm việc cụ thể.

Khi được hỏi về mong muốn gắn bó lâu dài với công việc hoặc hoạt động kinh doanh hiện tại, 57% trả lời “mong muốn” và 10,5% “rất mong muốn”. Cộng hai nhóm này, tỷ lệ có mong muốn gắn bó đạt 67,5%. Trong khi đó, 25,1% chưa xác định rõ và 7,3% ít hoặc không mong muốn tiếp tục gắn bó.

Trong kế hoạch 3 năm tới, 51,2% dự định tiếp tục công việc hiện tại. Có 17,1% muốn học thêm hoặc nâng cao trình độ; 18,1% chưa xác định kế hoạch. Tỷ lệ dự định tự kinh doanh hoặc mở hộ kinh doanh là 9,5%, trong khi 2,5% có kế hoạch thành lập doanh nghiệp hoặc khởi nghiệp và 7,1% muốn mở rộng hoạt động kinh doanh đang có.

Điều kiện được người lao động trẻ đặt lên hàng đầu để gắn bó lâu dài là thu nhập ổn định, đủ trang trải và có tích lũy, với tỷ lệ 66,9%. Các yếu tố tiếp theo gồm cơ hội thăng tiến nghề nghiệp (40,9%), môi trường làm việc công bằng, minh bạch (36,7%), quyền lợi lao động, bảo hiểm và phúc lợi (31,1%), cùng cơ hội được đào tạo, nâng cao kỹ năng (30,7%).

Về đóng góp cho đơn vị, 79,4% người được hỏi cho biết họ đóng góp thông qua làm việc chăm chỉ, có trách nhiệm; 50,2% đề cập việc nâng cao năng suất. Các hình thức đóng góp đòi hỏi tính chủ động và đổi mới có tỷ lệ thấp hơn, gồm đề xuất ý tưởng, sáng kiến (18,6%), ứng dụng công nghệ số (14,3%), phát triển sản phẩm, dịch vụ mới (10,2%) và tạo việc làm (4,5%). 

Chỉ có 16% sinh viên chắc chắn muốn khởi nghiệp

Nếu nhóm thanh niên đang làm việc chủ yếu tham gia khu vực kinh tế tư nhân với tư cách người làm công ăn lương, kết quả khảo sát sinh viên cho thấy một bộ phận lớn người trẻ đang cân nhắc con đường kinh doanh sau khi tốt nghiệp.

Dự định khởi nghiệp hoặc tự kinh doanh của sinh viên

Trong 150 sinh viên được khảo sát, 72,7% cho biết đang cân nhắc khởi nghiệp nhưng chưa có quyết định rõ ràng. Tỷ lệ xác định chắc chắn muốn khởi nghiệp là 16%, trong khi 11,3% không có ý định theo đuổi con đường này. Như vậy, 88,7% sinh viên được hỏi chưa loại trừ khả năng khởi nghiệp, nhưng phần lớn vẫn ở giai đoạn cân nhắc.

Về hình thức dự kiến, 37,6% lựa chọn khởi nghiệp cùng bạn bè, người thân hoặc đối tác; 34,6% quan tâm kinh doanh thương mại điện tử hoặc bán hàng trực tuyến. Các phương án làm việc tự do, cung cấp dịch vụ và vừa làm công việc chính vừa kinh doanh cùng chiếm 30,8%; 30,1% cân nhắc tự mở hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp.

Các lĩnh vực được sinh viên quan tâm gồm chăm sóc sức khỏe, chăm sóc cá nhân và làm đẹp 27,8%; giáo dục, đào tạo, tư vấn và pháp lý 20,3%; thương mại, bán lẻ 19,5%; ăn uống, lưu trú và du lịch 16,5%; công nghệ thông tin và dịch vụ số 7,5%.

Về quy mô vốn, 22,6% dự kiến cần từ 300 triệu đến dưới 500 triệu đồng; 18% cho rằng cần từ 500 triệu đồng trở lên; 18,8% dự kiến mức vốn từ 100 triệu đến dưới 300 triệu đồng. Tính chung, 59,4% ước tính cần ít nhất 100 triệu đồng, trong khi 21,8% chưa thể xác định số vốn cần thiết.

Ở khâu chuẩn bị, 59,4% sinh viên cho biết đang tìm hiểu thị trường và nhu cầu khách hàng; 48,1% tìm hiểu kiến thức kinh doanh, khởi nghiệp; 40,6% tích lũy vốn. Có 36,1% tìm hiểu quy định pháp lý, thuế và thủ tục đăng ký kinh doanh; 26,3% thử nghiệm sản phẩm, dịch vụ và 21,1% bán thử qua kênh trực tuyến.

Khoảng cách giữa tỷ lệ sinh viên quan tâm đến khởi nghiệp và tỷ lệ xác định chắc chắn theo đuổi con đường này cho thấy ý định làm chủ chưa đồng nghĩa với mức độ sẵn sàng triển khai một hoạt động kinh doanh.

Những khó khăn về vốn và kinh nghiệm cũng được phản ánh qua kết quả khảo sát về hoạt động kinh doanh của thanh niên. Theo báo cáo, nguồn vốn của nhóm thanh niên đã tham gia hoạt động kinh doanh chủ yếu đến từ tích lũy cá nhân, chiếm 43,4%; gia đình và người thân chiếm 23,6%; bạn bè hoặc đối tác chiếm 14,2%. Ba nguồn này cộng lại chiếm 81,2%. Trong khi đó, vốn vay ngân hàng chiếm 7,5%, vốn từ nhà đầu tư 6,6% và các quỹ hỗ trợ 2,8%.

Kinh nghiệm quản lý, điều hành là hạn chế được nhắc đến nhiều nhất, với 62,1%. Tiếp đến là khó khăn về vốn, tài sản và khả năng tiếp cận tín dụng 42,8%; mạng lưới quan hệ, khách hàng và đối tác 33,7%; tâm lý nóng vội, đầu tư theo phong trào hoặc mở rộng quá nhanh 33,4%; kiến thức pháp lý, thuế và thủ tục 28%.

Khó tiếp cận thông tin và chương trình hỗ trợ

Bên cạnh những khó khăn về thu nhập, vốn và năng lực quản trị, khảo sát cũng ghi nhận khoảng cách trong tiếp cận thông tin chính sách hỗ trợ đối với cả nhóm thanh niên đang làm việc và sinh viên.

Tỷ lệ thanh niên đã tiếp cận/tham gia các chương trình hỗ trợ

Ở nhóm thanh niên đang làm việc, 34,3% hoàn toàn chưa biết đến các chính sách hỗ trợ và 36,5% đã nghe nhưng chưa hiểu rõ. Tỷ lệ chưa từng tiếp cận chương trình hỗ trợ là 47,1%. Trong số những người chưa tiếp cận, 58,7% cho biết nguyên nhân là thiếu thông tin.

Đối với sinh viên, 64,7% thuộc nhóm hoàn toàn chưa biết hoặc đã nghe nhưng chưa hiểu rõ về chính sách hỗ trợ; 7,3% cho biết biết tương đối rõ hoặc đã tham gia. Tỷ lệ chưa từng tiếp cận chương trình hỗ trợ ở nhóm này là 38%; trong số đó, 53,6% nêu lý do thiếu thông tin.

Nhu cầu hỗ trợ nổi bật của cả hai nhóm là đào tạo, nâng cao kỹ năng và tiếp cận vốn vay. Cụ thể, 53,2% thanh niên đang làm việc và 54,7% sinh viên có nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng; tỷ lệ có nhu cầu vay vốn, tín dụng lần lượt là 52,5% và 42,7%. Riêng sinh viên cũng quan tâm đến hỗ trợ pháp lý, thuế, đăng ký kinh doanh và kết nối khách hàng, thị trường, cùng ở mức 34,7%.

Báo cáo đề xuất thiết kế hỗ trợ phù hợp với từng nhóm thanh niên, đồng thời phát huy vai trò kết nối của tổ chức Đoàn, Hội từ khâu cung cấp thông tin đến tư vấn, cố vấn, kết nối nguồn lực và thị trường. Cách tiếp cận này hướng tới hỗ trợ quá trình hình thành và vận hành hoạt động kinh doanh, thay vì chỉ tập trung vào các cuộc thi hoặc sự kiện khởi nghiệp.

Kết quả khảo sát phản ánh thực trạng và quan điểm của các nhóm được hỏi tại Hải Phòng, Đà Nẵng và TP HCM, không đại diện thống kê cho toàn bộ thanh niên cả nước. Dù vậy, các số liệu cho thấy bên cạnh nhu cầu cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc của lao động trẻ, việc hỗ trợ sinh viên và thanh niên tiếp cận vốn, kiến thức quản trị, thông tin chính sách và thị trường cũng là những vấn đề cần được quan tâm khi thúc đẩy sự tham gia của người trẻ vào khu vực kinh tế tư nhân.