Ngành sữa quý II/2026: Biên lợi nhuận cải thiện, 'sức khỏe' tài chính phân hóa
Vinamilk dẫn đầu quy mô, IDP nổi bật về tốc độ phục hồi lợi nhuận
Bức tranh kinh doanh quý II/2026 của nhóm doanh nghiệp sữa nhìn chung khá tích cực. Theo tổng hợp từ báo cáo tài chính của Vinamilk (mã: VNM), Đường Quảng Ngãi (mã: QNS), Mộc Châu Milk (mã: MCM), Sữa Hà Nội (mã: HNM) và Sữa Quốc tế LOF (mã: IDP), tổng doanh thu thuần trong quý đạt khoảng 25.170 tỷ đồng, trong khi lợi nhuận sau thuế vượt 4.070 tỷ đồng.
Đáng chú ý, cả 5 doanh nghiệp đều cải thiện kết quả lợi nhuận so với cùng kỳ, dù hai trường hợp MCM và IDP vẫn ghi nhận doanh thu đi xuống. Điều này cho thấy động lực của ngành trong quý vừa qua không chỉ đến từ tăng trưởng doanh số, mà còn từ việc giá vốn hạ nhiệt và khả năng kiểm soát chi phí.
Tại Vinamilk, trong quý II, doanh nghiệp ghi nhận 18.847 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng khoảng 12,5% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế hợp nhất đạt 3.184 tỷ đồng, tăng gần 28% so với mức 2.489 tỷ đồng của quý II/2025.
Như vậy, riêng Vinamilk chiếm khoảng ba phần tư tổng doanh thu và gần 80% lợi nhuận sau thuế của 5 doanh nghiệp được thống kê.
Lũy kế nửa đầu năm, doanh thu thuần của Vinamilk đạt gần 34.996 tỷ đồng, tăng gần 18%; lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 5.643 tỷ đồng, tăng hơn 38% so với cùng kỳ.
Kết quả tích cực diễn ra trong bối cảnh biên lợi nhuận gộp tiếp tục cải thiện. Giá vốn quý II của Vinamilk tăng khoảng 9%, chậm hơn tốc độ tăng doanh thu, giúp lợi nhuận gộp đạt 8.204 tỷ đồng, tăng 17% và đưa biên lợi nhuận gộp lên quanh 44%.
Ở chiều chi phí, doanh nghiệp vẫn phải chi mạnh cho bán hàng và quản lý. Chi phí bán hàng tăng 11% lên hơn 4.100 tỷ đồng, trong khi chi phí quản lý tăng 13% lên 521 tỷ đồng. Tuy vậy, mức cải thiện từ doanh thu và biên gộp vẫn đủ lớn để lợi nhuận sau thuế tăng hai chữ số.
Nếu Vinamilk dẫn đầu về quy mô, Sữa Quốc tế LOF là doanh nghiệp có sự thay đổi rõ nhất về lợi nhuận.
Quý II/2026, IDP ghi nhận 2.077,4 tỷ đồng doanh thu thuần, giảm 2% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế đạt 225,8 tỷ đồng, đảo chiều hoàn toàn so với khoản lỗ 36,2 tỷ đồng một năm trước.
Chìa khóa nằm ở giá vốn và chi phí hoạt động. Giá vốn giảm 7,3%, mạnh hơn tốc độ giảm doanh thu, qua đó giúp lợi nhuận gộp tăng 8% lên 835,6 tỷ đồng. Biên lợi nhuận gộp nhờ đó tăng từ 36,6% lên 40,2%.
Cùng với đó, chi phí bán hàng của IDP giảm tới 34%, còn 499,2 tỷ đồng; chi phí quản lý doanh nghiệp giảm 19%, xuống 65,5 tỷ đồng. Đây là yếu tố quan trọng đưa hoạt động kinh doanh từ trạng thái thua lỗ trở lại có lãi.
Lũy kế 6 tháng, doanh thu thuần IDP gần như đi ngang ở 3.978,4 tỷ đồng, nhưng lợi nhuận sau thuế tăng từ 70,9 tỷ đồng lên 469,9 tỷ đồng, tức gấp khoảng 6,6 lần cùng kỳ.
Mộc Châu Milk cũng cho thấy câu chuyện tương tự khi lợi nhuận cải thiện dù doanh thu đi xuống.
Doanh thu thuần quý II đạt khoảng 760,4 tỷ đồng, giảm gần 6% so với cùng kỳ. Giá vốn giảm nhanh hơn doanh thu nên biên lợi nhuận gộp tăng từ khoảng 29,5% lên 31%, dù lợi nhuận gộp vẫn giảm nhẹ xuống gần 236 tỷ đồng.
Trong khi đó, chi phí bán hàng giảm gần 8%, xuống khoảng 156 tỷ đồng. Kết quả, lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 88,5 tỷ đồng, tăng gần 17% so với cùng kỳ.
Lũy kế 6 tháng, MCM đạt 1.502 tỷ đồng doanh thu thuần và 168,6 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, lợi nhuận tăng hơn 36% so với cùng kỳ.
Ở nhóm quy mô nhỏ hơn, Hanoimilk ghi nhận 195,8 tỷ đồng doanh thu thuần trong quý II, tăng 7,4%. Giá vốn chỉ tăng khoảng 2%, giúp lợi nhuận gộp tăng gần 33% lên 43,5 tỷ đồng và biên lợi nhuận gộp cải thiện từ khoảng 18% lên hơn 22%.
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động cốt lõi chịu sức ép khi chi phí bán hàng tăng mạnh. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh giảm nhẹ xuống khoảng 6 tỷ đồng.
Khoản lợi nhuận khác khoảng 3,8 tỷ đồng trở thành lực đỡ đáng kể, đưa lợi nhuận sau thuế quý II lên 7,8 tỷ đồng, tăng hơn 56% so với cùng kỳ.
Tính chung 6 tháng, Hanoimilk đạt 385,4 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng khoảng 3%, nhưng lợi nhuận sau thuế chỉ đạt 11,5 tỷ đồng, giảm khoảng 12%. Nguyên nhân một phần đến từ chi phí tài chính, bán hàng và quản lý đều gia tăng. Riêng chi phí lãi vay tăng gần gấp đôi lên khoảng 9,6 tỷ đồng.
Với Đường Quảng Ngãi, số liệu hợp nhất bao gồm cả các mảng đường, sữa đậu nành, bánh kẹo, nước giải khát và các hoạt động khác.
Quý II/2026, QNS ghi nhận 3.289 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng khoảng 13%. Lợi nhuận gộp tăng tới 21% lên 1.169 tỷ đồng nhưng chi phí bán hàng và quản lý gia tăng đã hạn chế mức tăng của lợi nhuận sau cùng. Kết quả, lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 567 tỷ đồng, tăng 4%.
Lũy kế nửa đầu năm, QNS đạt 6.052 tỷ đồng doanh thu thuần và hơn 958 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế, lần lượt tăng khoảng 17% và 2% so với cùng kỳ.
Riêng mảng sữa đậu nành Vinasoy tiếp tục nổi bật. Trong 6 tháng đầu năm, doanh thu bộ phận này đạt khoảng 2.740 tỷ đồng, tăng hơn 20%; lợi nhuận gộp đạt gần 1.317 tỷ đồng, tăng 34%, tương ứng biên lợi nhuận gộp khoảng 48%.
Giá nguyên liệu tạo “đệm” cho biên lợi nhuận
Điểm chung dễ nhận thấy của nhóm sữa trong quý II là tốc độ tăng giá vốn nhìn chung thấp hơn doanh thu, hoặc giá vốn giảm mạnh hơn doanh thu tại các doanh nghiệp có doanh số đi xuống.
Theo tổng hợp của Vietstock từ các báo cáo phân tích, các doanh nghiệp sữa Việt Nam vẫn phụ thuộc một phần vào nguyên liệu nhập khẩu. Chứng khoán Rồng Việt cho rằng giá bột sữa nguyên liệu trong nửa đầu năm có diễn biến thuận lợi, giảm khoảng 21% so với cùng kỳ nhờ các hợp đồng đã chốt giá từ cuối năm trước.
Tác động thể hiện khá rõ trên biên lợi nhuận. Vinamilk nâng biên gộp lên khoảng 44%; IDP từ gần 37% lên hơn 40%; Hanoimilk từ 18% lên 22%; Mộc Châu Milk cũng cải thiện lên khoảng 31%. Tại QNS, biên gộp hợp nhất đạt khoảng 36%, trong khi riêng mảng sữa đậu nành ở mức khoảng 48%.
Tuy nhiên, biên gộp tốt hơn chưa đồng nghĩa lợi nhuận cuối cùng tăng tương ứng. Khoảng cách giữa các doanh nghiệp chủ yếu xuất hiện ở khả năng kiểm soát chi phí bán hàng, chi phí quản lý và chi phí tài chính.
IDP và MCM là hai ví dụ nổi bật khi tiết giảm chi phí bán hàng, qua đó chuyển phần cải thiện của biên gộp thành tăng trưởng lợi nhuận. Ngược lại, QNS và Hanoimilk chịu sức ép lớn hơn từ chi phí hoạt động. Vinamilk vẫn phải duy trì ngân sách bán hàng ở quy mô lớn, nhưng mức tăng doanh thu và lợi nhuận gộp đủ để bù đắp.
Cùng có tiền mặt lớn nhưng cấu trúc tài chính khác nhau
Bên cạnh kết quả kinh doanh, bảng cân đối kế toán cho thấy khoảng cách đáng kể về cách các doanh nghiệp sử dụng vốn.
Vinamilk tiếp tục sở hữu nền tảng tài chính lớn nhất. Tại ngày 30/6, tổng tài sản hợp nhất đạt khoảng 57.452 tỷ đồng, trong đó tiền, tương đương tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn vượt 26.500 tỷ đồng. Dư nợ vay ngắn hạn khoảng 8.323 tỷ đồng, giúp doanh nghiệp duy trì trạng thái tiền mặt ròng lớn.
Mộc Châu Milk thậm chí có cấu trúc vốn thận trọng hơn. Tổng tài sản cuối tháng 6 đạt khoảng 2.654 tỷ đồng, trong đó tiền, tương đương tiền và đầu tư tài chính ngắn hạn xấp xỉ 1.399 tỷ đồng, tương đương hơn một nửa tổng tài sản. MCM cũng đã tất toán 67 tỷ đồng dư nợ vay ngắn hạn đầu năm, đưa số dư vay về 0 tại cuối quý II.
Nguồn lực này tạo dư địa cho doanh nghiệp tiếp tục triển khai Tổ hợp trang trại sinh thái, bò sữa công nghệ cao Mộc Châu. Giá trị xây dựng dở dang liên quan dự án đã vượt 415 tỷ đồng vào cuối tháng 6.
Ở chiều ngược lại, IDP đang sử dụng đòn bẩy lớn hơn. Tổng tài sản của doanh nghiệp đạt 8.364 tỷ đồng, trong khi nợ phải trả khoảng 5.162 tỷ đồng. Riêng vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn đạt hơn 1.902 tỷ đồng. Tuy nhiên, IDP đồng thời sở hữu 703 tỷ đồng tiền và tương đương tiền cùng hơn 1.802 tỷ đồng đầu tư tài chính ngắn hạn, tạo bộ đệm thanh khoản đáng kể.
Hanoimilk có quy mô tài sản khoảng 909 tỷ đồng, trong khi tổng dư nợ vay vào cuối tháng 6 gần 243 tỷ đồng. Khác với MCM, áp lực lãi vay tại HNM đã bắt đầu phản ánh rõ vào kết quả kinh doanh khi chi phí lãi vay 6 tháng tăng mạnh lên khoảng 9,6 tỷ đồng.
QNS cũng sở hữu lượng tài sản tài chính lớn. Cuối quý II, tổng tài sản đạt gần 15.845 tỷ đồng, trong đó tiền, tương đương tiền và các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn ngắn hạn cộng lại gần 8.974 tỷ đồng. Doanh nghiệp có khoảng 3.794 tỷ đồng vay và nợ thuê tài chính ngắn hạn và không phát sinh vay dài hạn.