Nợ xấu Vietbank giảm 27%, lợi nhuận nửa đầu năm tăng mạnh
Thu nhập lãi tăng, chi phí dự phòng giảm 60% trong nửa đầu năm
Theo BCTC hợp nhất, trong quý II/2026, thu nhập lãi thuần của Vietbank (mã: VBB) đạt 994 tỷ đồng, tăng 45% so với mức 687 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
Trong kỳ, thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự ghi nhận 3.684 tỷ đồng, tăng 30% so với quý II/2025. Chi phí lãi và các chi phí tương tự ở mức 2.690 tỷ đồng, tăng 26%. Thu nhập lãi tăng nhanh hơn chi phí lãi, qua đó giúp thu nhập lãi thuần tăng thêm 306 tỷ đồng so với cùng kỳ.
Cùng với mức tăng của thu nhập lãi thuần, lợi nhuận trước thuế quý II đạt 777 tỷ đồng, tăng 192% so với mức 266 tỷ đồng của quý II/2025.
Thu nhập lãi thuần tăng 27%
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, thu nhập lãi thuần của Vietbank đạt 1.762 tỷ đồng, tăng 27% so với mức 1.390 tỷ đồng cùng kỳ năm trước. Riêng quý II đóng góp 994 tỷ đồng, tương đương khoảng 56% thu nhập lãi thuần nửa đầu năm.
Tổng thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự trong 6 tháng đạt 6.975 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nhập lãi từ cho vay khách hàng đạt 5.164 tỷ đồng, tăng 25% và chiếm 74% tổng thu nhập lãi.
Thu nhập lãi từ đầu tư chứng khoán đạt 803 tỷ đồng, tăng 66%, tương ứng tăng 318 tỷ đồng. Thu phí nghiệp vụ bảo lãnh đạt 14 tỷ đồng, cao gấp hơn 6 lần cùng kỳ năm trước.
Bên cạnh nguồn thu từ lãi, Vietbank ghi nhận 99 tỷ đồng lãi thuần từ mua bán chứng khoán đầu tư, cao gấp hơn 4 lần mức 23 tỷ đồng cùng kỳ. Hoạt động này mang về 102 tỷ đồng thu nhập, đồng thời ghi nhận 22 tỷ đồng hoàn nhập dự phòng rủi ro chứng khoán đầu tư.
Một số nguồn thu ngoài lãi khác giảm so với cùng kỳ. Lãi thuần từ hoạt động dịch vụ đạt 47 tỷ đồng, giảm 28%, trong khi lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối đạt 50 tỷ đồng, giảm 2%.
Ở chiều chi phí, tổng chi phí lãi trong 6 tháng đầu năm đạt 5.213 tỷ đồng, tăng 25% so với cùng kỳ. Trong đó, chi phí trả lãi tiền gửi đạt 4.211 tỷ đồng, tăng 24%, còn chi phí trả lãi giấy tờ có giá đạt 841 tỷ đồng, tăng 34%. Sau khi khấu trừ chi phí lãi, thu nhập lãi thuần của Vietbank đạt 1.762 tỷ đồng, tăng thêm 372 tỷ đồng so với cùng kỳ.
Chi phí mua bán chứng khoán đầu tư ghi nhận 25 tỷ đồng. Sau khi tính khoản thu nhập 102 tỷ đồng và hoàn nhập dự phòng 22 tỷ đồng, hoạt động này mang về 99 tỷ đồng lãi thuần.
Tổng chi phí hoạt động đạt 932 tỷ đồng, tăng 16%. Trong đó, chi phí cho nhân viên đạt 464 tỷ đồng, tăng 15% và chiếm gần một nửa tổng chi phí hoạt động, gồm 374 tỷ đồng tiền lương và phụ cấp, 40 tỷ đồng các khoản đóng góp theo lương và 51 tỷ đồng trợ cấp khác.
Chi phí liên quan đến tài sản tăng 22%, lên 252 tỷ đồng, trong đó chi phí khấu hao tài sản cố định đạt 93 tỷ đồng, tăng 80%. Chi phí nộp bảo hiểm tiền gửi đạt 72 tỷ đồng, tăng 6%.
Trong khi các khoản chi phí lãi và chi phí hoạt động đều tăng, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm 60%, xuống còn 86 tỷ đồng, tương ứng giảm 127 tỷ đồng so với cùng kỳ.
Sau khi tính các nguồn thu và chi phí, Vietbank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 944 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 83% so với mức 514 tỷ đồng cùng kỳ.
Dư nợ cho vay tăng gần 14%
Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản của Vietbank đạt 204.825 tỷ đồng, tăng 4% so với đầu năm, tương ứng tăng hơn 8.000 tỷ đồng. Cho vay khách hàng ghi nhận 119.949 tỷ đồng, tăng gần 14%, tương ứng tăng hơn 14.700 tỷ đồng trong 6 tháng.
Xét theo kỳ hạn, dư nợ ngắn hạn đạt 79.160 tỷ đồng, chiếm 66% tổng dư nợ. Dư nợ trung hạn chiếm hơn 17%, trong khi dư nợ dài hạn chiếm gần 17%. Trong khi tín dụng tăng, tiền gửi và cho vay các tổ chức tín dụng khác giảm 9%, xuống còn 46.767 tỷ đồng.
Danh mục chứng khoán đầu tư cũng thu hẹp 7%, còn 27.149 tỷ đồng, nhưng cơ cấu bên trong có sự thay đổi lớn.
Chứng khoán sẵn sàng để bán giảm 64%, từ 7.212 tỷ đồng xuống còn 2.591 tỷ đồng. Riêng trái phiếu do các tổ chức kinh tế phát hành giảm từ 3.205 tỷ đồng xuống 345 tỷ đồng, tương ứng giảm 89%.
Ngược lại, chứng khoán giữ đến ngày đáo hạn tăng 12%, lên 24.560 tỷ đồng. Danh mục này gồm 13.681 tỷ đồng chứng chỉ tiền gửi do các tổ chức tín dụng khác phát hành và 8.331 tỷ đồng trái phiếu Chính phủ.
Giá trị chứng chỉ tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác tăng gần 2.620 tỷ đồng, tương ứng tăng 24% so với đầu năm.
Tổng nợ xấu của Vietbank tại cuối tháng 6 ở mức 2.240 tỷ đồng, giảm 830 tỷ đồng, tương ứng giảm 27% so với đầu năm. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ qua đó giảm từ 2,92% xuống còn 1,87%.
Biến động giữa các nhóm nợ không đồng đều. Nợ dưới tiêu chuẩn, tức nợ nhóm 3, giảm 18%, xuống còn 485 tỷ đồng. Nợ có khả năng mất vốn, tương ứng nợ nhóm 5, giảm gần một nửa, từ 2.151 tỷ đồng xuống 1.108 tỷ đồng.
Trong khi đó, nợ nghi ngờ, tức nợ nhóm 4, tăng 96%, lên 648 tỷ đồng.
Nợ cần chú ý (nợ nhóm 2), tăng từ 1.087 tỷ đồng lên 2.371 tỷ đồng. Mức tăng đạt 118%, tương đương tăng gần 1.300 tỷ đồng trong 6 tháng. Nợ nhóm 2 chiếm 1,98% tổng dư nợ cho vay khách hàng.
Tổng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng đạt 1.549 tỷ đồng, tăng 6% so với đầu năm. Trong đó, dự phòng chung tăng 15%, lên 891 tỷ đồng, còn dự phòng cụ thể giảm 5%, xuống 657 tỷ đồng.
Tiền gửi khách hàng tại Vietbank ghi nhận 103.893 tỷ đồng, tăng hơn 2% so với đầu năm, tương ứng tăng khoảng 2.443 tỷ đồng.
Trong đó, tiền gửi không kỳ hạn tăng mạnh từ 4.444 tỷ đồng lên 7.919 tỷ đồng, tương ứng tăng 78%. Tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn trong tổng tiền gửi khách hàng tăng từ 4,38% lên 7,62%.
Phần lớn tiền gửi không kỳ hạn đến từ đồng Việt Nam, với quy mô 7.875 tỷ đồng.
Tiền gửi tiết kiệm vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 87.108 tỷ đồng, tương đương gần 84% tổng tiền gửi khách hàng. So với đầu năm, khoản mục này giảm 1%.
Ngoài tiền gửi khách hàng, Vietbank tăng huy động qua phát hành giấy tờ có giá. Số dư giấy tờ có giá đạt 28.255 tỷ đồng, tăng 19%, tương ứng tăng hơn 4.600 tỷ đồng.
Chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn dưới một năm tăng từ 16.400 tỷ đồng lên 21.800 tỷ đồng, tương ứng tăng 33%. Trái phiếu có kỳ hạn trên 5 năm giảm 15%, từ 5.107 tỷ đồng xuống 4.321 tỷ đồng.
Vốn chủ sở hữu của Vietbank tại cuối tháng 6 ghi nhận 13.154 tỷ đồng, tăng 6% so với đầu năm. Lợi nhuận chưa phân phối đạt 1.731 tỷ đồng.