Quy định về Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh: Giải phóng nguồn lực, bổ sung lực lượng sản xuất tiên tiến cho nền kinh tế

PGS.TS. Nguyễn Trọng Điều 08:33 | 13/10/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Những quan điểm, tư tưởng mới và đột phá của Đảng về việc đảng viên tham gia kinh doanh và đầu tư đang nhận được sự quan tâm lớn của hàng triệu đảng viên, giới doanh nhân và xã hội nói chung. Tạp chí Điện tử Doanh nhân Việt Nam xin trân trọng giới thiệu bài viết của PGS.TS. Nguyễn Trọng Điều, nguyên: Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; Chủ tịch sáng lập Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam.

Từ mốc lịch sử Quy định 15 đến yêu cầu khách quan của kỷ nguyên phát triển mới

Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (4–8/10 vừa qua) đã thông qua Quy định về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh, khuyến khích làm giàu chính đáng gắn với giữ vững bản chất của Đảng, xây dựng Đảng trong khu vực ngoài nhà nước và liêm chính công vụ.

Quy định mới của Đảng thể hiện rõ tính đột phá và tiến bộ, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong sự cập nhật, hoàn thiện về lý luận gắn với yêu cầu mới của thực tiễn trong kỷ nguyên phát triển mới.

 

Trước đó, tại buổi làm việc với Ban Chính sách và Chiến lược Trung ương cùng các cơ quan soạn thảo quy định mới về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh ngày 14/9/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh: Cần khẳng định quyền tham gia hoạt động kinh tế hợp pháp của đảng viên, gắn với địa vị pháp lý, chức trách và nghĩa vụ cụ thể; “tư cách đảng viên đòi hỏi trách nhiệm gương mẫu cao hơn, không tạo ra đặc quyền kinh doanh”. Chỉ đạo rõ nét của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thể hiện rõ quan điểm và tư duy lý luận của Đảng đối với vấn đề này.

Qua thực tế tham gia thảo luận, góp ý cùng các nhà khoa học và đại diện các cơ quan, ban, ngành tham gia soạn thảo, chúng tôi nhận thấy rằng, vấn đề này đã được nhìn nhận và triển khai soạn thảo với hàm lượng tư duy rất cao và nghiêm túc trước khi trình Ban Chấp hành Trung ương xem xét và thông qua, thay thế Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đảng viên làm kinh tế tư nhân.

Nhìn lại chặng đường 20 năm qua, chúng ta càng thấy rõ giá trị và tầm vóc lịch sử của Quy định 15. Vào thời điểm đó, sự ra đời của quy định này là một bước đột phá mang tính mở đường về tư duy lý luận của Đảng, lần đầu tiên chính thức công nhận và cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân, xóa bỏ định kiến và rào cản tâm lý e ngại “tư sản hóa” trong hàng ngũ đảng viên.

Thực tiễn qua hai thập kỷ đã chứng minh thành công to lớn của chủ trương đúng đắn này: số lượng đảng viên làm kinh tế tư nhân tăng hơn 5 lần, từ hơn 35.000 người (năm 2006) lên 187.000 người (tháng 3/2026); số lượng đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân tăng từ 2.350 người lên 8.600 người, lực lượng cán bộ, công chức, sĩ quan lực lượng vũ trang nghỉ hưu, phục viên làm kinh tế tư nhân đóng góp nguồn lực tri thức và kinh nghiệm quản trị quan trọng, chiếm hơn 31% tổng số đảng viên làm kinh tế tư nhân.

Sự mở đường của Quy định 15 đã bổ sung cho nền kinh tế quốc dân một lực lượng lao động ưu tú, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của lực lượng sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, bước vào giai đoạn hiện nay, bối cảnh kinh tế – xã hội đã có những chuyển biến mang tính bước ngoặt. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc dân. Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cũng đặt ra những mục tiêu lớn, lựa chọn khoa học – công nghệ (KH-CN) và kinh tế tri thức làm phương thức chủ đạo trong mô hình phát triển, trong đó nhấn mạnh vai trò của doanh nhân, doanh nghiệp trong các khu vực kinh tế trong nghiên cứu và ứng dụng KH-CN vào sản xuất, kinh doanh.

Mục tiêu tăng trưởng cao, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển vào năm 2045 cũng đòi hỏi sự kiến tạo, cải cách đồng bộ từ thể chế đến khả năng huy động mọi nguồn lực xã hội, trong đó có nguồn lực trí tuệ, chuyên môn của hàng triệu đảng viên.

Trong khi đó, toàn Đảng có hơn 5,6 triệu đảng viên nhưng số đảng viên là chủ doanh nghiệp tư nhân mới chỉ chiếm khoảng 0,15%, số đảng viên trong khối tư nhân chỉ ở mức khoảng 3,34%. Dư địa để huy động năng lực, trí tuệ và nguồn lực hợp pháp của đảng viên vào phát triển đất nước còn rất lớn.

PGS.TS. Nguyễn Trọng Điều, nguyên: Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Thứ trưởng Bộ Nội vụ; Chủ tịch sáng lập Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam.

Định hướng mới của Đảng đã khẳng định một quan điểm lý luận cốt lõi: Đảng viên là một lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội. Đảng ta là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Sự tiên phong ấy không chỉ thể hiện ở bản lĩnh chính trị hay đạo đức cách mạng, mà phải được cụ thể hóa bằng năng lực dẫn dắt sự phát triển của lực lượng sản xuất.

Trong kỷ nguyên số và kinh tế tri thức, lực lượng sản xuất tiên tiến không chỉ là máy móc hay vốn tiền tệ, mà quan trọng nhất là con người mang trí tuệ, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo. Đảng viên tham gia vào hoạt động kinh tế đồng thời là lực lượng tiên phong trong việc nâng cao chuẩn mực đạo đức kinh doanh, tuân thủ pháp luật, bảo vệ môi trường và gánh vác trách nhiệm xã hội.

Những bước ngoặt lớn về tư duy

Những tư tưởng và định hướng mới của Đảng về việc đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh thể hiện sự thay đổi cơ bản về lý luận và phương thức quản lý, thể hiện qua các luận điểm: Chuyển từ tư duy “cho phép” sang “phát huy vai trò tiên phong”; chuyển từ “tiền kiểm” sang “kiểm soát thực chất xung đột lợi ích”; phương pháp quản lý phân tầng, minh bạch và đánh giá độ rủi ro; bảo vệ quyền tài sản và chấp nhận rủi ro kinh doanh như một tất yếu của thực tiễn kinh doanh.

Một mặt, Đảng khuyến khích đảng viên tham gia kinh doanh, đầu tư; nhưng mặt khác, yêu cầu về kỷ luật và kiểm soát xung đột lợi ích được đặt ra ở mức độ rất cao, thể hiện qua quan điểm “xung đột lợi ích phải được báo cáo, xử lý đúng thẩm quyền, không dừng ở kê khai”.

PGS. TS. Nguyễn Trọng Điều thăm và làm việc tại Công ty Cổ phần gốm Chu Đậu nhân ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10/2023.

Tương tự, các quyền, điều kiện, giới hạn tham gia trong quy định đều xem xét tính phù hợp địa vị pháp lý, chức trách, mức độ rủi ro xung đột lợi ích. Việc kiểm soát được căn cứ theo quyền sở hữu, quyền chi phối, lợi ích thực tế, không chỉ người đứng tên; bảo vệ hoạt động kinh tế hợp pháp, không để quyền lực, thông tin, tài sản công trở thành lợi thế riêng.

Qua việc tham gia vào quá trình góp ý, tham vấn quy định mới, chúng tôi nhận thấy các vấn đề từ cụ thể đến tổng quát đã được nghiên cứu, phản biện sâu sắc và trí tuệ; đặc biệt là luôn có tính đồng bộ với tinh thần kiến tạo để phù hợp và có tính dẫn dắt hoạt động đầu tư, kinh doanh của đảng viên gắn với các mục tiêu, chính sách mới trong kỷ nguyên mới.

Về mặt thiết kế chính sách, các giải pháp vừa có tính cụ thể, vừa có tính linh hoạt cao để đảm bảo tính khả thi trong thực hiện. Một quy định quản lý hoạt động kinh tế không thể quá cứng nhắc hay mang tính cấm đoán định kiến, bởi môi trường kinh doanh thay đổi từng ngày với sự xuất hiện liên tục của các mô hình kinh tế số, tài sản trí tuệ và các phương thức đầu tư mới. Sự linh hoạt đòi hỏi chính sách phải phân tầng quản lý rõ ràng theo chức vụ, thẩm quyền và mức độ rủi ro xung đột lợi ích thực tế. Tuy nhiên, linh hoạt phải đi liền với cụ thể và định lượng được.

Ví dụ minh họa rõ nhất là quy định về "đầu tư thụ động" hay "người có liên quan" có tính mở để bổ sung các quy định định lượng bằng các tỷ lệ sở hữu cụ thể hoặc khung giới hạn rõ ràng phù hợp với thông lệ thị trường, giúp đảng viên có thể tự đối chiếu, tự kê khai và thực hiện mà không phải trải qua các thủ tục phê duyệt hành chính phức tạp. Quan điểm mới của Đảng đã xem xét tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật của Nhà nước.

Quy định của Đảng mang tính định hướng chính trị - tư tưởng và kỷ luật Đảng, nhưng mọi hoạt động kinh tế của đảng viên lại diễn ra trên thị trường và chịu sự điều chỉnh trực tiếp của pháp luật. Do đó, các khái niệm, quyền hạn, nghĩa vụ và chế tài trong tinh thần của quy định mới đã xem xét đến tính tương thích với các luật hiện hành như Luật Doanh nghiệp; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức và các văn bản dưới luật. Đồng thời, quy định mới cũng gắn với định hướng rà soát, điều chỉnh sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật liên quan để tạo ra hành lang pháp lý mới đồng bộ, nhất quán.

Quan điểm xóa bỏ cơ chế "xin - cho" cũng được thể hiện rõ trong quá trình hoạch định các quy định cụ thể, làm rõ thời hạn xử lý trong trách nhiệm của cơ quan quản lý. Trong kinh doanh, thời cơ là yếu tố quyết định sự sống còn của doanh nghiệp. Việc chậm trễ trong xem xét, chấp thuận hồ sơ hoạt động kinh tế của đảng viên sẽ làm mất đi cơ hội đầu tư và triệt tiêu tinh thần đổi mới sáng tạo.

Do đó, cùng với việc đơn giản hóa thủ tục, quy định mới đã lượng hóa thời hạn tối đa cho việc trả lời bằng văn bản của cấp ủy có thẩm quyền; đồng thời quy định rõ quy trình hậu kiểm, công khai, minh bạch thông tin để nâng cao trách nhiệm giải trình.

Một điểm rất tiến bộ trong quan điểm định hướng của Đảng trong vấn đề này là việc xây dựng cơ chế bảo vệ thực chất cho cán bộ, đảng viên, viên chức khoa học khi tham gia phát triển kinh tế hoặc hợp tác với tư nhân phát triển kinh tế; các nguyên tắc phân tách ranh giới rõ ràng giữa tài sản công và tài sản tư nhân, chấp nhận rủi ro kinh doanh để tránh nguy cơ đảng viên bị khép vào các sai phạm về thất thoát tài sản nhà nước khi nỗ lực khởi nghiệp.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt Đoàn đại biểu doanh nhân tiêu biểu của Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nhân kỷ niệm 20 năm Ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10/2004 - 13/10/2024). 

Tương tự, đối với lực lượng cán bộ hưu trí hay cán bộ tạm thời rời vị trí công tác để điều hành doanh nghiệp, đều có các định hướng cụ thể hóa các hướng dẫn chi tiết về bảo lưu chế độ, thâm niên và phân định rõ danh mục lĩnh vực hạn chế hậu công vụ để vừa ngăn chặn hiệu quả hiện tượng "sân sau", vừa không làm lãng phí nguồn lực tri thức giàu kinh nghiệm của đất nước.

Những chuyển biến sâu sắc trong tư tưởng và định hướng chỉ đạo của Đảng về đảng viên tham gia hoạt động đầu tư, kinh doanh đánh dấu một bước ngoặt thể chế mang tính lịch sử, mở ra nguồn lực phát triển mới cho nền kinh tế, bổ sung cho xã hội và nền kinh tế quốc dân một lực lượng sản xuất tiên tiến, ưu tú, được đào tạo bài bản và có ý thức kỷ luật, tính gương mẫu cao.

Khi chúng ta trao niềm tin, mở rộng hành lang pháp lý minh bạch, bảo đảm tính đồng bộ với pháp luật và gắn liền với kiểm soát thực chất xung đột lợi ích, chúng ta sẽ giải phóng được một nguồn lực trí tuệ, tài chính và năng lực quản trị to lớn. Đó chính là sự bổ sung quan trọng để xây dựng đội ngũ doanh nhân dân tộc vững mạnh, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên phát triển đột phá và giàu mạnh.

Không những thế, Đảng viên đặt ra yêu cầu đảng viên làm kinh tế phải nêu gương chấp hành pháp luật, tôn trọng quyền, lợi ích chính đáng của người lao động; tạo điều kiện để họ tiến bộ, hưởng thành quả tương xứng với đóng góp, góp phần thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, củng cố sự gắn bó của nhân dân với Đảng.