Thành công của EVFTA được đo lường trong dài hạn

07:42 15/02/2021 Theo dõi Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên Google news
Chia sẻ

Đánh giá về tác độngđến bức tranh thương mại và đầu tư giữa EU và Việt Nam sau khi EVFTA có hiệu lực, Chủ tịch EuroCham cho rằng thành công của EVFTA sẽ được đo lường trong dài hạn.

Chủ tịch Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), ông Nicolas Audier nhận định việc kiểm soát nhanh chóng và hiệu quả COVID-19 của Việt Nam đã tái khẳng định rằng đây là một thị trường an toàn, ổn định và giàu tiềm năng để đầu tư và kinh doanh, theo tờ Lao động.
 
Ông Nicolas Audier cho rằng Hiệp định có thời gian thực hiện kéo dài hàng thập kỷ. Do đó, cho đến năm 2027, một số cắt giảm thuế quan nhạy cảm hơn mới có hiệu lực và việc mở cửa thị trường sẽ hoàn thiện hơn. Bởi vậy, thành công của EVFTA sẽ được đo lường trong dài hạn.

Kể từ khi EVFTA có hiệu lực vào ngày 1.8.2020, khoảng 65% hàng hóa xuất khẩu của EU sang Việt Nam hiện được miễn thuế. Ở chiều ngược lại, 71% hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang EU cũng được miễn thuế. Điều này làm cho hàng hóa tương ứng của chúng tôi rẻ hơn và cạnh tranh hơn. Làm như vậy sẽ giúp tăng cường thương mại.
 

Thành công của EVFTA được đo lường trong dài hạn - ảnh 1
Chủ tịch Phòng Thương mại Châu Âu tại Việt Nam (EuroCham), ông Nicolas Audier
 
Nhìn từ phía châu Âu, có thể thấy EVFTA đã có tác động tích cực đến các công ty thành viên của chúng tôi.

Chỉ số Môi trường Kinh doanh (BCI) mới nhất của EuroCham cho thấy khoảng 70% các nhà lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu cho rằng các công ty của họ đã được hưởng lợi từ hiệp định kể từ khi nó có hiệu lực. Con số này sẽ tăng lên trong thập kỷ tới khi thuế quan tiếp tục giảm và thị trường tiếp tục mở cửa.

“Không giống như Việt Nam, châu Âu tiếp tục vật lộn để đối phó với tác động của đại dịch. Vì vậy, chúng ta có thể lường trước được một số hoạt động kinh doanh có thể bị gián đoạn ở mức độ nào đó cho đến khi có nhiều người hơn được tiêm chủng và cuộc sống trở lại bình thường. Việc kiểm soát nhanh chóng và hiệu quả COVID-19 của Việt Nam đã tái khẳng định rằng đây là một thị trường an toàn, ổn định và thuận lợi để đầu tư và kinh doanh”, ông Nicolas Audier nói.
 
Cùng với EVFTA, yếu tố vừa được đề cập giống như một thỏi nam châm thu hút các công ty châu Âu. Vì vậy, chúng ta có thể kỳ vọng đầu tư và thương mại của EU sẽ tăng trưởng mạnh mẽ vào năm 2021 khi các công ty tìm cách tận dụng thành công của Việt Nam trong “môi trường bình thường mới.

Theo Chủ tịch EuroCham, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) của Việt Nam hiện có cơ hội rất lớn để trở thành một phần không thể tách rời của chuỗi giá trị toàn cầu.

Việc Việt Nam ký kết các hiệp định thương mại tự do như EVFTA, CPTPP và bây giờ là RCEP sẽ mở ra cánh cửa cho các quan hệ đối tác mới với các công ty ở ASEAN, Châu Á-Thái Bình Dương và EU.
 
Các hiệp định thương mại tự do sẽ giúp Việt Nam gia tăng thương mại với các thị trường lớn và điều này sẽ mang lại đầu tư, chuyển giao kiến thức và công nghệ mới.
 
Các SMEs Việt Nam có thể sử dụng nguồn vốn và bí quyết này để mở rộng quy mô hoạt động và đạt được lợi thế cạnh tranh so với các doanh nghiệp từ các quốc gia khác trong ASEAN, những nước không có cùng mức độ tiếp cận thị trường toàn cầu và tài chính quốc tế.

Để huy động vốn, các SMEs nên tìm cách xây dựng mối quan hệ với các nhà cung cấp và đối tác ở những thị trường này, thông qua các hiệp hội kinh doanh và phòng thương mại như EuroCham.

Nói cách khác, các SMEs Việt Nam nên tìm cách tận dụng tối đa EVFTA và các hiệp định thương mại tự do khác trong giai đoạn quan trọng này; trước khi EU đàm phán các thỏa thuận tương tự như vậy với các nước khác trong khu vực.

Tạo chỗ đứng vững chắc hơn tại thị trường EU


Với 1.350 làng nghề và làng có nghề, ngành thủ công mỹ nghệ đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu và phát triển kinh tế của Hà Nội. Vì vậy, tập trung vào xuất khẩu đang là con đường mà nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất làng nghề tại Hà Nội hướng tới. Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) được thông qua là cơ hội cho các làng nghề Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong việc phát triển hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống, đây là thông tin được khoahocdoisong.vn vừa đưa ra.
 
Ông Lưu Duy Dần, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam cho biết, EVFTA chính thức có hiệu lực kể từ ngày 1/8/2020, sẽ là cơ hội mở ra cho các làng nghề Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng trong việc phát triển hàng thủ công mỹ nghệ mang tính truyền thống. Hiệp định EVFTA rất có lợi cho các nhà sản xuất của Việt Nam nói chung và các làng nghề nói riêng, nhất là trong ngành nghề thủ công mỹ nghệ, dù rằng thuế xuất khẩu của mặt hàng này từ trước khi có Hiệp định vẫn ở mức 0%. Bởi lẽ, tác động của Hiệp định đối với các doanh nghiệp làng nghề không phải ở tác động đi mà là tác động lại. Đó là không gian thị trường, tiếp cận các nguồn lực về công nghệ, vốn cho sự phát triển.

Theo đó, chính các nhà nhập khẩu từ châu Âu cũng sẽ có lợi từ việc nhập khẩu hàng hóa từ thị trường Việt Nam và nhiều doanh nghiệp của châu Âu sẽ tìm đến Việt Nam. Từ đó, tạo lực kéo giúp các doanh nghiệp làng nghề nói chung và mặt hàng thủ công mỹ nghệ nói riêng của Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào thị trường EU.

Theo PGS.TS Đinh Trọng Thịnh, giảng viên cao cấp Học viện Tài chính nhận định, cơ hội mở ra cho làng nghề là rất lớn. EU có thu nhập bình quân đầu người rất cao, tiêu dùng tương đối đa dạng, phong phú. Đặc biệt, thị trường này có một trào lưu tiêu dùng đơn chiếc và tiêu dùng hàng handmade. Do đó, việc phát triển các sản phẩm mang tính chất truyền thống sẽ là thế mạnh của Việt Nam.

Cùng với đó, khi Hiệp định EVFTA đi vào thực thi, các sản phẩm làng nghề nói chung và sản phẩm thủ công mỹ nghệ nói riêng đều nằm trong diện được miễn thuế ngay. Điều này giúp sản phẩm làng nghề đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh và xuất khẩu sang thị trường EU mà không có giới hạn về mặt thuế quan và định lượng. Đây cũng sẽ là bệ phóng giúp sản phẩm làng nghề của Hà Nội thâm nhập vào các thị trường khác. Mặt khác, EU có quá trình công nghiệp hóa với các làng nghề lâu dài, đây cũng là cơ sở để cho Việt Nam tiếp cận được công nghệ phù hợp với các làng nghề…
 
 
Thành công của EVFTA được đo lường trong dài hạn - ảnh 2
 EVFTA đi vào thực thi, các sản phẩm làng nghề nằm trong diện được miễn thuế ngay
 
TS. Nguyễn Minh Phong bày tỏ kỳ vọng về EVFTA trên Tờ Nhân dân. Ông Phong dẫn lời Đại sứ EU tại Việt Nam, sau khi EVFTA có hiệu lực, nhiều mặt hàng có giá trị tăng cao của Việt Nam như tôm, thủy hải sản đã đạt mức tăng trưởng khá. EVFTA sẽ mở cửa cho DN Việt Nam tiến vào thị trường EU dễ dàng hơn, mang lại cơ hội phát triển tốt hơn cho Việt Nam. Điều quan trọng là EVFTA không chỉ cải thiện việc giao thương, mà còn đem tới những tác động khác trong mối quan hệ giữa Việt Nam với EU…

EVFTA có phạm vi cam kết rộng và mức độ cam kết cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay, chứa đựng nhiều cơ hội và kỳ vọng mở ra một triển vọng mới cho quan hệ hợp tác hai bên Việt Nam và EU phát triển ngày càng sâu rộng, toàn diện, bình đẳng, cùng có lợi và hiệu quả hơn; đồng thời, đóng góp vào thúc đẩy xu thế chung về liên kết kinh tế quốc tế và phát triển bền vững; khẳng định vị thế Việt Nam và chính sách của EU tiếp tục tăng cường gắn kết với châu Á - Thái Bình Dương nói chung và ASEAN nói riêng.

EU hiện là đối tác thương mại lớn thứ ba và là một trong hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. EVFTA và EVIPA mở ra cơ hội lớn cho DN Việt Nam thâm nhập thị trường EU đầy tiềm năng với 508 triệu dân và quy mô khoảng 18 nghìn tỷ USD, hiện là thị trường xuất khẩu và xuất siêu lớn thứ hai của Việt Nam. Ngay khi EVFTA có hiệu lực, EU xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với gần 86% số dòng thuế từ Việt Nam và nâng lên 99% dòng thuế sau 7 năm; trong khi Việt Nam xóa bỏ ngay 48,5% số dòng thuế cho hàng hóa EU trong năm đầu tiên và nâng lên 91,8% số dòng thuế sau 7 năm.

Cùng với những lợi ích gián tiếp khác, điều này giúp tăng năng lực cạnh tranh cho 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này và giúp giảm chi phí đầu vào cho các ngành sản xuất, giảm giá hàng hóa, dịch vụ; đồng thời, dự kiến sẽ giúp Việt Nam tăng 4-6% GDP và tăng xuất khẩu sang EU gần 43% vào năm 2025 (trong đó, xuất khẩu gạo tăng 65%, dệt tăng 67%, may mặc tăng 81% và da giày tăng tới 99%; còn đường tăng 8% và lâm sản, thịt gia súc, gia cầm và đồ uống, thuốc lá cũng tăng từ 3-4%...) và tăng gần 45% vào năm 2030; EVFTA khi được thực thi, nhất là việc dỡ bỏ thuế quan, xúc tiến đầu tư, thúc đẩy công nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn, cải thiện quy tắc xuất xứ và chứng nhận xuất xứ; cải thiện môi trường tạo thuận lợi thương mại - hỗ trợ kỹ thuật tăng cường nhận thức và áp dụng những tiêu chuẩn của thị trường EU…sẽ mang lại nhiều cơ hội để Việt Nam mở rộng xuất khẩu, thu hút đầu tư và tham gia sâu rộng hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu…

EVFTA và EVIPA còn giúp Việt Nam đẩy mạnh đa dạng hóa thị trường và đối tác, tạo chỗ đứng vững chắc hơn tại thị trường EU nói riêng và toàn bộ châu Âu nói chung, cùng với Hiệp định tự do đã ký với Liên minh thuế quan Nga, Belarus và Kazakhstan….Đồng thời, góp phần thúc đẩy tiếp nhận hàng hóa chất lượng cao và thiết lập chuỗi sản xuất gắn với dòng vốn đầu tư công nghệ cao từ EU, cả trong công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, dịch vụ và kinh tế số.

Sự hợp tác hiệu quả giữa hai bên trong thực thi các cam kết của EVFTA và EVIPA còn góp phần thúc đẩy Việt Nam tiếp tục cải cách hoàn thiện thể chế, nâng cao tiêu chuẩn lao động và đời sống của nhân dân, đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế theo chiều sâu và tăng trưởng bền vững…

Mặt khác, EVFTA cũng tạo áp lực cạnh tranh gay gắt ở một số lĩnh vực, như logistics, hóa chất, phương tiện vận tải, sắt thép, dược phẩm, chăn nuôi và nông sản chế biến...trong khi tạo nhiều cơ hội và động lực mới cho Việt Nam.

Ở thị trường châu Âu, hiện tại Việt Nam mới chiếm khoảng 3% thị phần. Dệt may, một trong những ngành công nghiệp lớn nhất Việt Nam với hơn 2 triệu nhân công sẽ hưởng lợi lớn nhờ EVFTA, khi mức thuế quan mà  12% EU áp dụng đối với hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam được giảm xuống còn 0%. Cụ thể, điều này sẽ có lợi đối với năm sản phẩm dẫn đầu xuất khẩu của Việt Nam (bộ vest nữ - 285 triệu USD, bộ vest nam - 233 triệu USD, áo khoác nam - 211 triệu USD, áo khoác nữ - 207 triệu USD và áo len - 166 triệu USD).

Việc cắt giảm thuế quan của EU sẽ giúp tăng xuất khẩu của năm sản phẩm xuất khẩu dẫn đầu nói trên, trung bình hơn 20%. Việt Nam là một trong 10 nhà xuất khẩu da giầy dép hàng đầu thế giới, với hơn 500 doanh nghiệp, 1 triệu nhân công và chiếm 10% kim ngạch xuất khẩu hằng năm. Xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu tập trung vào giầy da chất lượng cao (48%, 2,3 tỷ USD năm 2008) và giầy thể thao cho các thương hiệu giầy của Mỹ và EU; gần đây một số nhà sản xuất Việt Nam đã bắt đầu tập trung vào nhu cầu nội địa.

Mức thuế quân bình quân gia quyền EU áp dụng đối với giầy dép nhập khẩu từ Việt Nam là 12,4%: Thuế nhập khẩu giầy da gồm cả thuế chống bán phá giá là 17%. Việc ký kết FTA trở nên đặt biệt quan trọng đối với xuất khẩu giầy dép Việt Nam: trong mô phỏng SMART (Ngân hàng Thế giới – World Bank), xuất khẩu các loại giầy dép khác nhau sẽ tăng từ 7 đến 21%; cần cộng thêm 14-16% do hết hạn áp dụng thuế chống bán phá giá.

Với hiệp định EVFTA có hiệu lực, dự báo xuất khẩu giày sẽ tăng 50% và dệt may tăng 67% vào 2025. Các doanh nghiệp (DN) đã bắt đầu một số điều chỉnh mang tính chiến lược trong thời gian 1-3 năm tới. Có tới 55,7% DN dự định thúc đẩy tự động hóa, 49,8% sẽ phát triển sản phẩm mới, 39,9% sẽ đa dạng hơn nữa sản phẩm và 41,5% sẽ đầu tư nâng cao kỹ năng lao động.

Gần một nửa nhãn hàng thời trang cho biết sẽ tăng mua từ Việt Nam sau Covid-19, một phần do chiến lược đa dạng hóa chuỗi cung ứng và một phần do các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam vừa tham gia. Số còn lại cân nhắc về việc thiếu nguyên phụ liệu khiến các nhãn hàng từ châu Âu và khối CPTPP không được hưởng ưu đãi thuế qua hiệp định EVFTA và CPTPP.

Đại dịch Covid-19 đã tác động mạnh tới doanh nghiệp dệt may và giày dép, khi có tới 94,2% doanh nghiệp da giày, 87,1% doanh nghiệp dệt may bị giảm đơn hàng, 84,5% doanh nghiệp da giày, 53,5% doanh nghiệp dệt may bị khách hoãn hủy đơn và 74,8 DN da giày, 22,9% doanh nghiệp dệt may không xuất khẩu được, hàng loạt chuỗi cung ứng nguyên phụ liệu từ nước ngoài bị gián đoạn, đứt gãy.

Theo TS. Nguyễn Minh Phong, thời điểm hồi phục của ngành thời trang về mức trước khi đại dịch được dự đoán là cuối năm 2022, đầu năm 2023.
 
Minh Hoa