Tín hiệu từ lãi suất 5,51% của trái phiếu tiết kiệm Mỹ
Ngày 30/10 vừa qua, Bộ Tài chính Mỹ công bố mức lãi suất mới dành cho trái phiếu tiết kiệm Series I ở mức 5,51%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 6 tháng từ tháng 11/2026 đến hết 30/4/2027. Mức sinh lời này tăng mạnh so với con số 4,26%/năm của kỳ 6 tháng liền trước. Thông tin trên lập tức thu hút sự chú ý của các hộ gia đình Mỹ đang tìm chỗ giữ tiền.
Cách đây 4 năm, vào tháng 5/2022, dòng công trái này từng tạo nên cơn sốt trên toàn nước Mỹ khi trả lãi kỷ lục 9,62%/năm giữa lúc giá cả tiêu dùng leo thang sau đại dịch. Từ tháng 4/2021 đến tháng 2/2023, người dân Mỹ đã rót gần 153 tỷ USD vào kênh tiết kiệm này, khiến cổng giao dịch điện tử TreasuryDirect của chính phủ nhiều thời điểm bị nghẽn mạng.
Khi lạm phát dịu bớt trong hai năm tiếp theo và lãi suất lùi về vùng 4%/năm, nhiều người gửi tiền ngắn hạn đã rút vốn sang kênh khác. Nay con số 5,51% xuất hiện trở lại, nhưng giới phân tích tài chính tại Phố Wall chỉ tập trung vào một chi tiết nhỏ bên trong: phần lãi suất cố định nhảy từ 0,9% lên 1,4%/năm, mức cao nhất kể từ tháng 11/2006.
Giải mã mức lãi cố định 1,40% của Series I
Để hiểu vì sao mức lãi 1,40% quan trọng, cần nhìn vào cấu trúc của Series I, dòng công trái ra đời tháng 9/1998 nối tiếp các thế hệ từ Series A năm 1935 đến Series H. Đây là công trái bán lẻ do Kho bạc Mỹ bán qua mạng, không được giao dịch trên sàn. Mỗi người chỉ được mua 10.000 USD/năm, phải nắm giữ trong vòng 12 tháng, và nếu bán lại trước 5 năm thì bị phạt mất 3 tháng tiền lãi.
Điểm đặc biệt của Series I nằm ở cơ chế ghép phần lãi cố định giữ nguyên suốt 30 năm với phần lãi biến đổi neo theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI-U) mỗi 6 tháng. Tiền lãi được cộng dồn vào gốc sau mỗi nửa năm, miễn thuế tiểu bang và hoãn thuế liên bang đến khi rút vốn; ngay cả khi giảm phát, tổng lãi suất vẫn được cam kết không tụt xuống dưới 0%/năm.
Do rào cản hạn mức 10.000 USD/năm, chương trình công trái tiết kiệm chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trên bảng cân đối nợ của Mỹ. Tính đến 30/9/2026, tổng dư nợ Series I đang lưu hành là 86 tỷ USD, tương đương 0,21% trong khối nợ công 40 nghìn tỷ USD; riêng trong tháng 9/2026, doanh số người dân mua mới Series I chỉ đạt 58 triệu USD.
Dù quy mô nhỏ, việc phần lãi cố định của Series I nhảy lên 1,40%/năm lại đáng chú ý, bởi đây là mức lãi thực nhận thêm sau khi đã bù đắp trượt giá. Suốt thời kỳ tiền rẻ từ năm 2008 đến năm 2022, Kho bạc Mỹ hầu như chỉ đặt lãi cố định ở mức 0%/năm; ngay cả khi lãi suất tổng lập đỉnh 9,62% vào tháng 5/2022 thì lãi cố định vẫn bằng 0%.
Kho bạc Mỹ giữ kín cách tính, nhưng ông David Enna, nhà sáng lập trang Tipswatch, chỉ ra rằng suốt 16 kỳ từ tháng 11/2017 đến nay, Kho bạc luôn lấy 0,65 nhân với lợi suất thực bình quân 6 tháng của trái phiếu ngừa lạm phát 5 năm (TIPS). Từ tháng 5 đến tháng 10/2026, lợi suất thực của TIPS 5 năm đạt bình quân 2,09%/năm; nhân với 0,65, đưa lãi cố định của Series I lên 1,40%.
Như vậy, mức lãi cố định 1,40% của Series I là chỉ báo cho thấy lợi suất thực trên thị trường trái phiếu Mỹ đã leo lên vùng cao nhất trong hai thập kỷ. Chính phủ Mỹ không còn vay được vốn với lãi suất thực 0% như trước, bởi cả hai cấu phần lãi suất của trái phiếu đều đang bị đẩy lên bởi đà tăng giá tiêu dùng và chính sách tiền tệ thắt chặt.
Áp lực giá cả tăng buộc Fed giữ lãi suất cao
Sự đi lên của hai cấu phần lãi suất trong trái phiếu Series I bắt nguồn từ việc giá cả sinh hoạt tại Mỹ tăng nhanh trong quý 3/2026. Theo Cục Thống kê Lao động Mỹ, chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2026 tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 3,7% so với cùng kỳ năm ngoái, đi lên rõ rệt từ mức 3,4% ghi nhận trong tháng 8/2026.
Chỉ số CPI-U chưa hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ tăng 2,04% trong 6 tháng (từ tháng 3 tới tháng 9/2026) và đẩy lãi biến đổi của Series I lên 4,08%/năm. Đợt tăng giá này đến từ nhiều phía: xung đột tại Iran đẩy giá xăng tháng 9/2026 tăng 9,1% so với tháng trước, thuế nhập khẩu ngấm vào hàng hóa và các trung tâm dữ liệu AI tiêu thụ lượng điện khổng lồ.
Đáng ngại hơn đối với các nhà hoạch định chính sách là tâm lý lo sợ đồng tiền mất giá đang lan rộng trở lại trong đời sống hộ gia đình. Cuộc khảo sát công bố ngày 7/10 của Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York chỉ ra rằng mức dự báo lạm phát sau một năm của người tiêu dùng Mỹ đã nhảy lên 3,9%, đánh dấu mức cao nhất kể từ tháng 5/2023.
Thực tế, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã phải chuyển từ giữ nguyên lãi suất ở vùng 3,5 – 3,75% sang nâng lãi suất lên vùng 3,75 – 4% trong cuộc họp tháng 9, đánh dấu đợt tăng đầu tiên từ năm 2023. Đến cuộc họp ngày 28/10, dù FOMC không tiếp tục nâng lãi suất, thông cáo vẫn nhấn mạnh lạm phát còn cao. Hai thành viên của Uỷ ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) là bà Lisa D. Cook và bà Beth M. Hammack đã bỏ phiếu phản đối vì muốn nâng ngay lãi suất điều hành thêm 0,25 điểm phần trăm lên vùng 4 – 4,25%.
Sau đợt tăng lãi suất tháng 9, mặt bằng lợi suất trên thị trường trái phiếu tự do leo lên vùng cao mới vào đầu tháng 10/2026: lợi suất trái phiếu 10 năm đạt 5,31% ngày 5/10 và kỳ hạn 30 năm chạm 5,67% ngày 7/10, còn tín phiếu 1 năm lên 4,53% giữa tháng. Dù đã hạ nhiệt về 4,98% và 5,32% sau cuộc họp ngày 28/10, chi phí đi vay đắt đỏ bắt đầu chuyển thành sức ép trực tiếp trên bảng cân đối ngân sách của Mỹ.
Sức ép với nợ công
Mặt bằng lãi suất trên 5%/năm không chỉ tác động riêng tới trái phiếu Series I mà ảnh hưởng tới toàn bộ thị trường nợ của Bộ Tài chính Mỹ. Trên tổng nợ công 40 nghìn tỷ USD tính đến 30/9/2026, có tới 31,8 nghìn tỷ USD là chứng khoán nợ được mua bán tự do mỗi ngày giữa các ngân hàng trung ương, quỹ đầu tư và định chế tài chính.
Trong khối nợ giao dịch tự do đó, công cụ phổ biến nhất giữ vai trò chủ lực tài trợ cho nước Mỹ là trái phiếu trung hạn từ 2 đến 10 năm (Treasury Notes) với dư nợ 16,3 nghìn tỷ USD, chiếm 51% quy mô. Xếp sau là tín phiếu ngắn hạn dưới một năm (Treasury Bills) chiếm 7,12 nghìn tỷ USD và trái phiếu dài hạn 20 đến 30 năm chiếm 5,55 nghìn tỷ USD.
Riêng dòng trái phiếu ngừa lạm phát dành cho định chế lớn (TIPS) có quy mô lưu hành đạt 2,17 nghìn tỷ USD, lớn gấp 25 lần dư nợ của Series I. Ngoài phần bù trượt giá 4,08%/năm như nhau, người mua Series I chỉ nhận phần lãi thực 1,40% (tổng lãi 5,51%), còn với TIPS kỳ hạn 5 và 10 năm, Kho bạc Mỹ phải trả lãi thực từ 2,31% đến 2,63%/năm (tính tới ngày 29/10), nếu lạm phát giữ ở mức 4,08%/năm thì tổng mức sinh lời của TIPS khoảng 6,4%–6,7%/năm.
Sở dĩ Kho bạc Mỹ phải chấp nhận trả mức sinh lời thực cao như vậy là vì khối lượng trái phiếu tung ra thị trường mỗi tuần quá lớn. Theo báo cáo của Cơ quan Kiểm toán Trách nhiệm Chính phủ Mỹ (GAO), chỉ trong một năm tài khóa, Bộ Tài chính phải tổ chức tới 444 phiên đấu thầu để vừa vay tiền mới bù thâm hụt, vừa gom tiền trả các lô nợ cũ.
Khó khăn lớn nhất nằm ở chỗ Bộ Tài chính Mỹ đã tăng mạnh tỷ trọng vay ngắn hạn bằng tín phiếu từ sau đại dịch để tận dụng nguồn tiền từ các quỹ thị trường tiền tệ. Theo thống kê tại mốc 30/6/2026, có tới 9,2 nghìn tỷ USD nợ giao dịch tự do do tư nhân nắm giữ (chiếm 34,6% quy mô 26,6 nghìn tỷ USD của nhóm này) sẽ đáo hạn trong 12 tháng kế tiếp.
Những khoản nợ lớn từng được chính phủ Mỹ vay với lãi suất bình quân 1,46%/năm vào tháng 8/2021 nay phải vay mới trả nợ cũ ở mức 4,42% đến trên 5,11%/năm. Báo cáo quyết toán năm tài khóa 2026 kết thúc vào 30/9/2026 cho thấy tiền trả lãi nợ ròng của liên bang đã vượt 1.050 tỷ USD, tăng hơn 8% so với năm trước, vượt ngân sách quốc phòng và chỉ còn thấp hơn chi cho Medicare khoảng 20 tỷ USD.
Con số 1.052 tỷ USD tiền lãi ròng đồng nghĩa với việc cứ mỗi một 100 USD tiền thuế mà cơ quan thuế vụ Mỹ thu về trong năm tài khóa 2026 thì có tới 19,5 USD phải trích ra để trả lãi cho chủ nợ. Trong tổng mức thâm hụt ngân sách 1.993 tỷ USD của năm qua, hơn một nửa số tiền đi vay mới chỉ dùng để thanh toán tiền lãi phát sinh từ nợ cũ.
Theo tính toán của Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ (CBO) công bố vào 8/10/2026, nếu lợi suất trái phiếu duy trì cao hơn dự báo cơ sở từ 0,5 đến 1,5 điểm phần trăm ở vùng 4,8% đến 5,8%, tiền trả lãi sẽ đội thêm hàng trăm tỷ USD mỗi năm. Viện Kinh tế Quốc tế Peterson (PIIE) cảnh báo gánh nặng trả lãi này khiến Fed khó mạnh tay nâng lãi suất vì làm tăng thâm hụt.
Nhìn từ góc độ đó, việc trái phiếu tiết kiệm Series I nâng lãi suất lên 5,51% cùng mức lãi cố định 1,40% là dấu hiệu bề mặt của sự dịch chuyển cấu trúc sâu rộng. Khi chi phí vay mượn thực tế của đồng USD neo cao dài hạn để hấp thụ khối nợ 40 nghìn tỷ USD, dòng vốn toàn cầu sẽ tiếp tục bị hút về Mỹ, gây sức ép lên các nền kinh tế đang phát triển.