TS. Võ Trí Thành: 'Dư địa giảm lãi suất không còn nhiều, nên ưu tiên tín dụng có mục tiêu để hỗ trợ tăng trưởng'
Bối cảnh hiện nay lạm phát tiệm cận mục tiêu, thanh khoản hệ thống ngân hàng còn chịu áp lực và tỷ giá tiếp tục đối mặt sức ép từ việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất ở mức cao, thì dư địa giảm mặt bằng lãi suất không còn nhiều để hỗ trợ nền kinh tế.
Trao đổi với chúng tôi bên lề Hội thảo "Kinh tế Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026: Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới”, diễn ra sáng 14/7, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, khuyến nghị, thay vì giảm lãi suất trên diện rộng, Chính phủ cần tiếp tục triển khai các gói tín dụng có mục tiêu cho những lĩnh vực ưu tiên như nhà ở xã hội, thủy sản và một số ngành sản xuất trọng điểm.
“Các chính sách hỗ trợ có trọng tâm sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với việc nới lỏng mặt bằng lãi suất chung, vốn đang gặp nhiều hạn chế do điều kiện thị trường", ông Thành nêu rõ.
Ông nhấn mạnh, tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm đạt 8,18% là kết quả tích cực nếu so với nhiều năm gần đây.
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 21%, trong khi vốn FDI giải ngân tăng khoảng 11 - 12% cho thấy sức chống chịu của nền kinh tế và niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vẫn được duy trì.
Tuy nhiên, theo chuyên gia, để đạt mục tiêu 10% đề ra từ đầu năm, GDP 6 tháng cuối năm phải tăng gần 12% là một thách thức không nhỏ trong bối cảnh các động lực tăng trưởng vẫn còn nhiều hạn chế.
TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh. (Ảnh: Nguyễn Ngọc).
Nhìn nhận "mục tiêu tăng trưởng cả năm 2026 sẽ không dễ hoàn thành”, chuyên gia chỉ ra rằng, một trong những điểm nghẽn là đầu tư công. Đến nay, tiến độ giải ngân mới đạt hơn 35% kế hoạch năm. Mặc dù cao hơn cùng kỳ các năm trước, khối lượng vốn còn phải giải ngân trong nửa cuối năm vẫn rất lớn nếu muốn hoàn thành mục tiêu hơn 1,1 triệu tỷ đồng.
Tiêu dùng cũng chưa phục hồi như kỳ vọng. Theo ông, tốc độ tăng tiêu dùng trong 2 - 3 năm gần đây vẫn thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước đại dịch. Trong 6 tháng đầu năm, nếu loại trừ yếu tố giá, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chỉ tăng khoảng 7,3%, trong đó có sự hỗ trợ đáng kể từ khoảng 12 - 13 triệu lượt khách quốc tế.
Ngoài ra, tăng trưởng giữa các địa phương vẫn chưa đồng đều. Ngay cả Hà Nội và TP HCM là hai đầu tàu kinh tế của cả nước cũng chỉ tăng trên 8% trong 6 tháng đầu năm.
Muốn kích cầu, chuyân gia cho rằng giải pháp căn cơ là tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh để doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, phục hồi niềm tin, mở rộng sản xuất và tạo thêm việc làm, qua đó nâng cao thu nhập và sức mua của người dân.
"Cần duy trì các chính sách hỗ trợ như giảm thuế giá trị gia tăng và đẩy mạnh thu hút khách du lịch quốc tế nhằm tạo thêm động lực cho tổng cầu trong những tháng cuối năm", vị chuyên gia này khuyến nghị.
Nỗ lực hoàn thành mục tiêu tham vọng
Còn theo TS. Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách tại Trung tâm Chuyển đổi Xanh Thông minh (Green-X), Trường Đại học VinUni, mức tăng trưởng 8,18% trong 6 tháng đầu năm cao nhất trong gần 20 năm cho thấy Việt Nam hoàn toàn có thể đạt được những mục tiêu tăng trưởng tham vọng nếu duy trì quyết tâm và chính sách điều hành phù hợp.
Do đó, điều quan trọng nhất cho 6 tháng cuối năm là giữ vững kỳ vọng của doanh nghiệp và nhà đầu tư về tăng trưởng cũng như ổn định kinh tế vĩ mô.
TS. Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách tại Trung tâm Chuyển đổi Xanh Thông minh (Green-X), Trường Đại học VinUni. (Ảnh: Nguyễn Ngọc)
Về động lực tăng trưởng 6 tháng cuối năm, đầu tư công sẽ là lực đẩy quan trọng khi vẫn còn hơn 640.000 tỷ đồng cần được giải ngân. Theo thông lệ, tiến độ giải ngân thường tăng mạnh vào những tháng cuối năm, qua đó tạo thêm nguồn lực cho nền kinh tế, hỗ trợ thanh khoản và giảm áp lực lãi suất.
Bên cạnh đó, cán cân thương mại sẽ cải thiện khi các dự án FDI hoàn thành và đi vào sản xuất, tạo thêm nguồn hàng xuất khẩu. Cùng với việc đổi mới phương thức điều hành, tăng cường giám sát tăng trưởng theo từng địa phương và đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực thi chính sách, đây sẽ là những động lực quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong nửa cuối năm.
Trong khi đó, một số yếu tố đang được coi là rủi ro thực chất chưa quá đáng lo ngại. Thâm hụt thương mại chủ yếu phản ánh việc khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị để mở rộng đầu tư sản xuất, trong khi tỷ giá vẫn ổn định cho thấy dòng vốn trên cán cân tài chính đã bù đắp phần lớn sự mất cân đối của cán cân thương mại.
Mặt bằng lãi suất tuy còn ở mức tương đối cao nhưng việc ưu tiên ổn định tỷ giá sẽ tạo dư địa để từng bước giảm lãi suất trong thời gian tới.
“Nếu tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát tốt các rủi ro từ bên ngoài, Việt Nam có cơ sở để đạt mức tăng trưởng cao hơn trong 6 tháng cuối năm, tiến gần mục tiêu tăng trưởng cả năm”.