VIMICO giảm hơn 800 tỷ doanh thu sau soát xét, có hơn 3.000 tỷ gửi ngân hàng
Doanh thu, lợi nhuận giảm sau soát xét nhưng vẫn tăng mạnh so với cùng kỳ
Tổng công ty Khoáng sản TKV - CTCP (VIMICO, mã: KSV) là doanh nghiệp khai thác, chế biến và luyện kim màu thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), với các sản phẩm chủ lực như đồng tấm, vàng, bạc, kẽm thỏi, thiếc, quặng, gang đúc và phôi thép. Theo báo cáo tài chính hợp nhất sau soát xét, 6 tháng đầu năm 2026, VIMICO đạt 9.072 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 38,3% so với mức 6.560 tỷ đồng cùng kỳ năm trước.
Con số này thấp hơn khoảng 818 tỷ đồng so với mức 9.890 tỷ đồng được công bố trong báo cáo trước soát xét.
Tuy nhiên, ngay cả sau điều chỉnh, doanh thu vẫn tăng hơn 38% so với cùng kỳ, cho thấy hoạt động kinh doanh cốt lõi vẫn tăng trưởng đáng kể.
Lợi nhuận sau thuế 6 tháng đầu năm đạt 2.403 tỷ đồng, tăng 182% so với cùng kỳ năm 2025. Trong báo cáo trước soát xét, con số lãi ròng được công bố là khoảng 2.392 tỷ đồng.
Động lực chính giúp lợi nhuận tăng mạnh nằm ở khả năng mở rộng biên lợi nhuận.
Sau soát xét, giá vốn hàng bán 6 tháng đầu năm ở mức 5.734 tỷ đồng, tăng 11,57% so với cùng kỳ. Trong khi đó, doanh thu tăng tới 38%.
Khoảng cách lớn giữa tốc độ tăng doanh thu và giá vốn kéo lợi nhuận gộp lên 3.338 tỷ đồng, tăng gần 135% so với cùng kỳ.
Theo đó, biên lợi nhuận gộp tăng từ 21,6% trong 6 tháng đầu năm 2025 lên 36,8% trong kỳ này. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc giá bán nhiều sản phẩm khoáng sản tăng mạnh, trong khi giá vốn không tăng tương ứng.
Trước đó, VIMICO cho biết giá bán bình quân của nhiều sản phẩm chủ lực tăng đáng kể. Giá đồng tấm bình quân khoảng 345,7 triệu đồng/tấn; giá vàng bình quân khoảng 3,83 tỷ đồng/kg; giá bạc 57,8 triệu đồng/kg. Giá bán tinh quặng manhetit và kẽm thỏi cũng tăng so với cùng kỳ.
Trong đó, giá đồng tấm tăng gần 99 triệu đồng/tấn, giá vàng tăng khoảng 1,48 tỷ đồng/kg và giá bạc tăng gần 36,9 triệu đồng/kg.
Những biến động về giá bán, cùng với sản lượng tiêu thụ của một số sản phẩm tăng, là yếu tố quan trọng tạo nên mức tăng trưởng lợi nhuận đột biến của VIMICO.
Không chỉ hưởng lợi từ biên lợi nhuận gộp, VIMICO còn ghi nhận sự thay đổi đáng kể ở các khoản chi phí.
Chi phí tài chính 6 tháng đầu năm giảm 66,5%, xuống còn khoảng 60 tỷ đồng. Trong đó, chi phí lãi vay giảm 40,9%, đồng thời doanh nghiệp giảm trích lập dự phòng tổn thất đầu tư tài chính.
Ở chiều ngược lại, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng mạnh 90%, lên khoảng 357 tỷ đồng.
Đáng chú ý, chi phí nhân viên quản lý tăng từ khoảng 93 tỷ đồng lên 186 tỷ đồng. Khoản mục này gần như tăng gấp đôi so với cùng kỳ, phần nào làm giảm mức tăng trưởng lợi nhuận có thể đạt được nếu chi phí quản lý không tăng mạnh.
Dù vậy, mức tăng của chi phí quản lý vẫn thấp hơn đáng kể mức tăng của lợi nhuận gộp, trong khi chi phí tài chính giảm sâu. Nhờ đó, lợi nhuận sau thuế vẫn đạt mức kỷ lục.
Tiền và tiền gửi vượt 3.000 tỷ đồng
Tại ngày 30/6/2026, tổng tài sản VIMICO đạt 10.791 tỷ đồng, tăng 34,77% so với đầu năm. Trong đó, tài sản ngắn hạn tăng 61,49%, chủ yếu nhờ tiền và tiền gửi ngân hàng tăng mạnh.
Tiền mặt và tiền gửi có kỳ hạn đạt 3.081 tỷ đồng, tăng hơn 411% so với đầu năm và chiếm 28,55% tổng tài sản. Trong khi đó, nợ vay tài chính giảm 26,12%, còn 969,8 tỷ đồng, kéo tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu từ 25,97% xuống 14,81%. Như vậy, lượng tiền và tiền gửi của VIMICO hiện cao hơn 3 lần dư nợ vay tài chính.
Đáng chú ý, khoảng 2.200 tỷ đồng được gửi ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại cổ phần, với lãi suất 7,55 - 8,2%/năm, vừa tạo nguồn thu nhập tài chính vừa củng cố thanh khoản cho doanh nghiệp.
Khoản trả trước cho người bán ngắn hạn tăng đột biến từ 18 tỷ đồng lên 335,9 tỷ đồng, tương đương hơn 1.757%. Theo thuyết minh, trong số này có 285,8 tỷ đồng VIMICO ứng trước cho Công ty CP Gang thép Cao Bằng - công ty con do VIMICO sở hữu 52% vốn.
Phải thu ngắn hạn của khách hàng cuối kỳ ghi nhận 2.379,5 tỷ đồng, nhưng khách hàng bên thứ ba chỉ chiếm 7,97 tỷ đồng. Khoảng 2.371,5 tỷ đồng còn lại đến từ các bên liên quan, trong đó TKV chiếm 1.325 tỷ đồng và Gang thép Cao Bằng 600 tỷ đồng.
Cơ cấu này cho thấy phần lớn công nợ phải thu của VIMICO phát sinh từ hoạt động tiêu thụ trong nội bộ hệ thống TKV, thay vì khách hàng độc lập.
Chi phí phải trả ngắn hạn tăng từ 9,9 tỷ đồng đầu năm lên 599,7 tỷ đồng cuối kỳ. Theo doanh nghiệp, nguyên nhân chủ yếu là trích trước các chi phí khai thác đã phát sinh nhưng chưa có hóa đơn, trong đó chi phí bóc đất đá khoảng 299 tỷ đồng và bốc xúc, vận chuyển thuê ngoài 113,6 tỷ đồng.
Đây là các khoản chi phí đặc thù của hoạt động khai khoáng, song mức tăng đột biến khiến khoản mục này cần được theo dõi khi doanh nghiệp hoàn tất quyết toán và ghi nhận chi phí thực tế.
Hàng tồn kho ghi nhận 2.279 tỷ đồng, tăng 17,28% so với đầu năm, trong đó chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang tại các mỏ khoảng 1.345 tỷ đồng.
Ngược lại, tài sản dài hạn giảm 11,91% xuống 2.567 tỷ đồng, chủ yếu do khấu hao tài sản cố định tăng thêm khoảng 450 tỷ đồng. Trong khi đó, chi phí xây dựng cơ bản dở dang dài hạn tăng 171,63%, lên 216,2 tỷ đồng, liên quan đến đầu tư mở rộng mỏ đồng Sin Quyền và trung, đại tu máy móc thiết bị.