5 điểm nhấn ngành ngân hàng 2025: Tín dụng tăng cao nhất gần một thập kỷ, xử lý ngân hàng 0 đồng, xóa độc quyền vàng miếng...

Diên Vỹ 15:08 | 06/01/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Là lĩnh vực xương sống của nền kinh tế, trong năm 2025, ngành ngân hàng tiếp tục duy trì sự ổn định hệ thống song song với củng cố hành lang pháp lý cho xử lý nợ xấu và tổ chức tín dụng yếu kém, nâng chuẩn an toàn vốn tiệm cận thông lệ quốc tế; cải thiện công tác quản lý thị trường vàng...

Phát biểu tại Hội nghị tổng kết năm 2025 và triển khai nhiệm vụ ngành Ngân hàng năm 2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Thị Hồng đánh giá 2025 là năm khép lại một nhiệm kỳ đầy biến động, khó khăn, thách thức nhưng cũng là nhiệm kỳ ghi đậm nhiều dấu ấn của ngành.

Với sự quan tâm, chỉ đạo sát sao từ Đảng, Nhà nước, Quốc hội, cùng sự phối hợp chặt chẽ từ các bộ, ngành, địa phương; cũng như sự tạo điều kiện thuận lợi từ Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã nỗ lực điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ với mức tăng trưởng trên 8% trong năm 2025, đồng thời kiểm soát lạm phát dưới 3%, giữ ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối dù đối mặt với rất nhiều áp lực.

Một trong những điểm nhấn trong công tác điều hành chính sách tiền tệ là sự linh hoạt trong các biện pháp điều hành của NHNN đặc biệt là trong việc quản lý thị trường mở, lãi suất và tỷ giá; qua đó không chỉ tạo ra môi trường ổn định cho các tổ chức tín dụng mà còn góp phần duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức cao...

Tăng trưởng tín dụng cao nhất gần một thập kỷ

Điều hành tăng trưởng tín dụng năm 2025 tiếp tục cho thấy vai trò trung tâm của NHNN trong việc cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và kiểm soát rủi ro lạm phát, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Ngay từ đầu năm, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú đã khẳng định rằng mức tăng trưởng trên 8% hướng đến 10% của năm 2025 là con số rất ấn tượng mà Chính phủ đặt ra; và để có được mức tăng trưởng ấn tượng đó đòi hỏi rất nhiều chính sách cũng như giải pháp đồng bộ tất cả các lĩnh vực. "Năm 2023, GDP tăng trưởng gần 7% thì tăng trưởng tín dụng ở mức 14,55%. Năm 2024, GDP tăng trưởng 7,09% thì tín dụng tăng trưởng 15,08%. Trung bình hơn 2% tăng trưởng tín dụng sẽ giúp tăng trưởng 1% tăng trưởng GDP", Phó Thống đốc phân tích.

Theo đó, hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế 8% cho năm 2025, NHNN cho biết đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm khoảng 16%.

Số liệu mới nhất từ NHNN cho thấy đến ngày 25/12/2025, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 18,41 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với cuối năm 2024 và vượt mục tiêu 16% đề ra hồi đầu năm. Đây cũng là mức tăng trưởng tín dụng cao nhất nhiều năm trở lại đây. 

  Ảnh: T.D tổng hợp. 

Một điểm sáng đáng chú ý khác là sự chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng bền vững. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ. Cùng đó, dòng vốn không còn tập trung vào các khoản vay ngắn hạn mà ưu tiên cho các khoản vay trung và dài hạn với mức tăng 17,32% (tính đến cuối quý III). 

Hoàn tất chuyển giao 3 ngân hàng 0 đồng và 1 ngân hàng bị kiểm soát đặc biệt

Năm 2025 cũng là năm đánh dấu việc NHNN hoàn tất chuyển giao bắt buộc ba ngân hàng 0 đồng và một ngân hàng bị kiểm soát đặc biệt (gồm OceanBank, CBBank, GPBank và DongA Bank) về tay bốn ngân hàng thương mại là MB, Vietcombank, VPBank và HDBank; sau đó lần lượt đổi tên thành Ngân hàng Thương mại TNHH Một thành viên Việt Nam Hiện Đại (MBV); Ngân hàng Thương mại TNHH Một thành viên Ngoại thương Công nghệ số (VCBNeo); Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Kỷ Nguyên Thịnh Vượng (GPBank) và Ngân hàng Thương mại Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Số Vikki (Vikki Bank).

Theo mô hình chuyển giao bắt buộc, cả 4 ngân hàng này hiện đều trở thành ngân hàng con trách nhiệm hữu hạn một thành viên, do ngân hàng mẹ sở hữu 100% vốn điều lệ. 

Đến nay, các ngân hàng này đã dần ổn định hoạt động. Những báo cáo gần đây cho thấy sự khởi sắc đáng kể trong hoạt động kinh doanh cũng như tình hình tài chính của các ngân hàng này, với sự tăng trưởng cả về quy mô tài sản, huy động và dư nợ. Nhiều đơn vị cũng đã bắt đầu có lãi. 

Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 diễn ra gần đây, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ tịch HĐQT ngân hàng Vietcombank cho biết năm qua, Vietcombank đã triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ về tín dụng, thanh khoản, công nghệ và quản trị rủi ro, đồng thời điều chuyển đội ngũ nhân sự chất lượng cao tham gia quản trị và phát triển kinh doanh cho VCBNeo. Nhờ đó, ước tính đến cuối năm 2025, VCBNeo ghi nhận mức lợi nhuận hơn 1.800 tỷ đồng, đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ so với giai đoạn trước.  

Ông Phạm Như Ánh, Tổng giám đốc MB cũng cho biết ngân hàng đã cử khoảng 200 nhân sự tham gia HĐTV, BKS và Ban điều hành MBV. Song song kiện toàn bộ máy, ngân hàng cũng tiến hành thay đổi nhận diện thương hiệu MBV, đồng thời đưa Công ty Quản lý nợ và Khai thác tài sản MB (MBAMC) trực tiếp tham gia xử lý nợ xấu; giúp tỷ lệ nợ xấu tại MBV giảm mạnh từ khoảng 30% xuống còn 3%.

Tại GPBank, ngân hàng này được cho là đã có lãi liên tục từ tháng 6/2025. Trong thông cáo về kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm; lãnh đạo VPBank cho biết, tại thời điểm cuối quý II/2025, GPBank đã có lợi nhuận dương sau nhiều năm thua lỗ, mở ra tín hiệu phục hồi tích cực. Tăng trưởng huy động lên tới 20%, trong khi tín dụng tự thân tăng 3%.Do vậy, ban lãnh đạo ngân hàng đánh giá, kế hoạch lợi nhuận 500 tỷ đồng trong năm nay là hoàn toàn khả thi.

Tương tự, trong báo cáo kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm, HDBank cũng tiết lộ rằng Vikki Bank đã bắt đầu có lãi sau 7 tháng chuyển đổi. Ngân hàng số này hiện có hơn 1,3 triệu khách hàng mới và ra mắt mô hình Vikki Café - chi nhánh thế hệ mới.  

Với việc hoàn tất xử lý 4 ngân hàng yếu kém, NHNN gần như đã tháo gỡ xong nút thắt lớn cuối cùng trong tiến trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng giai đoạn 2020-2025, góp phần lành mạnh hóa thị trường tài chính. Như vậy đến nay, chỉ còn Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) là tổ chức tín dụng duy nhất còn nằm trong diện kiểm soát đặc biệt kể từ tháng 10/2022.

Tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngân hàng năm 2026 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã yêu cầu NHNN nghiên cứu giải pháp phù hợp đối với ngân hàng SCB theo hướng tập trung thu hồi tài sản và tái cơ cấu, bảo đảm công khai, minh bạch và đúng quy định. 

Chính thức xoá bỏ cơ chế độc quyền sản xuất vàng miếng

Nghị định 232 sửa đổi, bổ sung Nghị định 24 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng chính thức có hiệu lực từ 10/10/2025, đánh dấu bước tiến quan trọng trong lĩnh vực quản lý kinh doanh vàng thông qua nội dung xóa độc quyền vàng miếng của Nhà nước. 

Cụ thể, sau 13 năm áp dụng, Nghị định 232 chính thức bãi bỏ cơ chế Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng, thay vào đó doanh nghiệp và ngân hàng đủ điều kiện sẽ được cấp phép sản xuất vàng miếng, mở rộng quyền xuất khẩu và nhập khẩu vàng.

Theo Nghị định 232, ngân hàng, doanh nghiệp muốn được cấp phép sản xuất vàng miếng sẽ cần đáp ứng một số điều kiện như phải có giấy phép mua bán, kinh doanh mặt hàng này; phải đáp ứng điều kiện về vốn, với doanh nghiệp tối thiểu mức vốn từ 1.000 tỷ đồng trở lên, ngân hàng có vốn điều lệ từ 50.000 tỷ đồng trở lên.

Nghị định mới cũng buộc các tổ chức nhập khẩu vàng nguyên liệu và sản xuất, kinh doanh vàng miếng công bố tiêu chuẩn áp dụng, xây dựng hệ thống dữ liệu về giao dịch, mua bán vàng và kết nối thông tin với NHNN. Những thay đổi này được kỳ vọng sẽ tạo ra cơ hội mới cho thị trường vàng, đồng thời thúc đẩy cạnh tranh, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng.  

Bên cạnh đó, Nghị định 232 cũng yêu cầu việc thanh toán mua - bán vàng có giá trị từ 20 triệu đồng trong ngày trở lên của một khách hàng phải được thực hiện thông qua tài khoản thanh toán của khách hàng và tài khoản thanh toán của doanh nghiệp kinh doanh vàng mở tại ngân hàng. Quy định nhằm đảm bảo yêu cầu về xác thực thông tin khách hàng; tăng tính công khai, minh bạch trong giao dịch mua - bán vàng. 

Sau khi Nghị định 232 có hiệu lực, tại thời điểm cuối tháng 12/2025, đại diện NHNN cho biết đã nhận được 9 hồ sơ của ngân hàng thương mại và doanh nghiệp đủ điều kiện theo quy định để xem xét cấp giấy phép sản xuất vàng miếng. Theo đó, doanh nghiệp có giấy phép sản xuất vàng miếng thì sẽ được NHNN cấp giấy phép nhập khẩu vàng nguyên liệu. Hiện NHNN đang phối hợp với các bộ ngành để cấp phép sao cho đảm bảo quy định, đại diện NHNN cho hay.

 NHNN cho biết đã tiếp nhận 9 hồ sơ đề nghị cấp giấy phép sản xuất vàng miếng từ các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp đủ điều kiện. Ảnh minh họa. 

Luật hóa Nghị quyết 42, hoàn thiện khung pháp lý xử lý nợ xấu

Với 435/443 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội hôm 27/6/2025 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD). Trong đó, đưa vào Luật một số điều tại Nghị định 42 như quyền thu giữ tài sản đảm bảo, kê biên tài sản thi hành án, và hoàn trả tài sản là vật chứng hoặc tang vật trong vụ án hình sự và hành chính...

Theo đó, Quốc hội sửa đổi khoản 1, Điều 193 về Quy định của khoản vay đặc biệt theo hướng việc phân cấp thẩm quyền cho vay đặc biệt từ Thủ tướng Chính phủ sang Thống đốc NHNN. Bên cạnh đó, Quốc hội bổ sung ba Điều 198a, Điều 198b, Điều 198c vào Điều 198 quy định gồm (1) Quyền thu giữ TSBĐ, (2) Kê biên tài sản của bên phải thi hành án đang được sử dụng làm TSBĐ cho khoản nợ xấu và (3) Hoàn trả TSBĐ là vật chứng trong vụ án hình sự. Ba quy định này được xem là ba điểm đặc biệt quan trọng tại Nghị quyết 42/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD, vốn đã hết hiệu lực từ 1/1/2024. 

Với việc bổ sung 3 quy định trên, Nghị quyết 42 về cơ bản đã được luật hóa tương đối đầy đủ tại Luật các TCTD. Khi trước đó, 6 quy định của Nghị quyết 42 đã được chỉnh lý và luật hóa tại Luật các TCTD năm 2024 gồm: (i) Bán nợ xấu và TSBĐ của khoản nợ xấu (Điều 5), (ii) Mua, bán nợ xấu của tổ chức mua bán, xử lý nợ (Điều 6), (iii) Mua, bán khoản nợ xấu có TSBĐ là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất hình thành trong tương lai (Điều 9), (iv) Xử lý TSBĐ là dự án bất động sản (Điều 10), (v) Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ (Điều 12), (vi) Chuyển nhượng TSBĐ (Điều 15). 

Giới chuyên gia đồng tình rằng việc luật hóa các quy định cốt lõi của Nghị quyết 42 có ý nghĩa to lớn trong việc gia tăng hiệu quả thu hồi nợ xấu của ngành ngân hàng; đồng thời thúc đẩy tiến trình hoàn thiện khung pháp lý về xử lý nợ xấu tại Việt Nam. 

Việc luật hóa 3 quy định tại Điều 198a, Điều 198b, Điều 198c vào Điều 198 Luật các TCTD về lâu dài được kỳ vọng sẽ hỗ trợ ngành ngân hàng thu hồi nợ tích cực, giảm tỷ lệ nợ xấu, từ đó giảm chi phí dự phòng rủi ro, nâng cao năng lực tài chính và hệ số an toàn vốn của các tổ chức tín dụng, đảm bảo an toàn hệ thống. Ngoài ra, ảnh hưởng tích cực cũng sẽ mở rộng ra cả việc khơi thông nguồn vốn tín dụng tạo cơ hội giảm chi phí đầu vào và tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng xem xét giảm lãi suất cho khách hàng, hỗ trợ mạnh mẽ cho tăng trưởng nền kinh tế. 

Sau khi Luật các TCTD mới có hiệu lực từ tháng 10/2025, tác động tích cực được kỳ vọng sẽ trải rộng toàn ngành. Trong đó, các ngân hàng có hàm lượng bán lẻ cao (như VIB, ACB, STB, VPB...) có thể hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình thu giữ và xử lý TSBĐ (với điều kiện các TSBĐ có pháp lý rõ ràng, đầy đủ, không có tranh chấp hoặc hạn chế pháp lý) do đặc thù TSBĐ của các khoản nợ xấu bán lẻ sẽ dễ thu giữ và xử lý hơn so với các khoản nợ xấu của khách hàng doanh nghiệp bởi tính chất ít phức tạp hơn...

Chuẩn hóa tỷ lệ an toàn vốn

Tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) trung bình của toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam chỉ ở mức khoảng 12,5%, thấp hơn mặt bằng khu vực (23,27% tại Indonesia, 20,24% tại Thái Lan, 17,1% tại Singapore... ). Một số ngân hàng quốc doanh như VietinBank, BIDV có tỷ lệ an toàn vốn trong kỳ tính đến 31/12/2024 ở mức hơn 9%, thấp hơn đáng kể so với trung bình ngành. 

Trong bối cảnh đó, cuối tháng 6/2025, NHNN ban hành Thông tư 14/2025 quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thay thế Thông tư 41/2016. Thông tư 14/2025 có hiệu lực từ ngày 15/9/2025 được xem là bước chuyển quan trọng từ chuẩn an toàn vốn Basel II sang Basel III, hướng tới củng cố an toàn hệ thống, tính minh bạch và khả năng chống chịu rủi ro của hệ thống ngân hàng Việt Nam.  

Theo đó, Thông tư 14 quy định lại tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo hướng nâng chuẩn so với Thông tư 41/2016 vốn được xây dựng trên nền tảng Basel II. Một trong những nội dung quan trọng được quy định tại Thông tư này là việc các ngân hàng thương mại phải duy trì tỷ lệ vốn lõi cấp 1 ≥ 4,5%; tỷ lệ vốn cấp 1 ≥ 6% và tỷ lệ an toàn vốn CAR ≥ 8%. Ngân hàng có công ty con, ngoài yêu cầu riêng lẻ, cũng phải đảm bảo tỷ lệ hợp nhất.

Thông tư cũng lần đầu đưa ra các quy định về các bộ đệm vốn gồm bộ đệm bảo toàn vốn (Capital conservation buffer - CCB), bộ đệm vốn phản chu kỳ (CCyB) và bộ đệm vốn cho các ngân hàng thương mại có tầm quan trọng hệ thống. Khoản 5 Điều 5 về tỷ lệ an toàn vốn tại Thông tư 14 nêu rõ, ngoài các tỷ lệ bắt buộc phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 liên quan đến tỷ lệ vốn lõi cấp 1, tỷ lệ vốn cấp 1 và tỷ lệ an toàn vốn; ngân hàng thực hiện CCB theo quy định.

Thông tư 14 cũng nêu rõ, chỉ khi duy trì việc đáp ứng toàn bộ các tỷ lệ theo các năm - bao gồm cả các tỷ lệ an toàn vốn và tỷ lệ bộ đệm bảo toàn vốn (CCB), ngân hàng mới được phân chia phần lợi nhuận còn lại do ngân hàng tự quyết định theo quy định của pháp luật về chế độ tài chính bằng tiền mặt, bao gồm cả cổ tức bằng tiền mặt cho cổ đông. 

Từ năm 2030 trở đi, các ngân hàng thương mại sẽ cần phải duy trì tỷ lệ CAR (tổng) ít nhất 10,5% so với mức 8% hiện tại, theo lộ trình đặt ra tại Thông tư 14. Ảnh: T.D tổng hợp

Nhìn chung, Thông tư 14 đưa ra những yêu cầu khắt khe hơn về tỷ lệ CAR theo hướng tiệm cận chuẩn mực Basel III. Từ năm 2030 trở đi, các ngân hàng thương mại sẽ cần phải duy trì tỷ lệ CAR (tổng) ít nhất 10,5% so với mức 8% hiện tại. Mức 10,5% này bao gồm cả 2,5% bộ đệm bảo toàn vốn (CCB) bắt buộc và có thể cộng thêm bộ đệm chu kỳ (CCyB) từ 0 - 2,5% tùy quy định của NHNN theo từng giai đoạn kinh tế. Lộ trình áp dụng được quy định giãn dần theo từng năm để đến năm 2030, chính thức áp dụng mức CCB 2,5%, nâng CAR tối thiểu từ 8% lên 10,5%.

Theo giới chuyên gia, với việc Thông tư 14 có hiệu lực, các ngân hàng sẽ đối diện với áp lực tăng vốn, đặc biệt là nhóm ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng TMCP hiện đang có CAR thấp, để đảm bảo dư địa tăng trưởng trong dài hạn. 

Thực tế, thời gian qua, các ngân hàng liên tục công bố nhiều kế hoạch tăng vốn lớn, không chỉ để đáp ứng chuẩn mực an toàn vốn, mà còn nhằm bổ sung nguồn vốn dài hạn “thật”, tạo dư địa cho tín dụng trung và dài hạn, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế mà vẫn tuân thủ chặt chẽ các quy định an toàn của cơ quan quản lý. 

Đến tháng cuối cùng của năm, làn sóng tăng vốn điều lệ trong ngành ngân hàng vẫn diễn ra sôi động.

Trong ngày 31/12/2025, ABBANK nhận được giấy chứng nhận đăng ký chào bán thêm cổ phiếu ra công chúng, theo đó ngân hàng dự kiến chào bán hơn 310,5 triệu cp với tỷ lệ thực hiện quyền là 100:30; nhằm tăng vốn điều lệ từ mức 10.350 tỷ đồng lên 13.455 tỷ đồng. ‏Trước đó, SHB‏‏ cũng công bố Nghị quyết HĐQT về phương án tăng vốn thêm 7.500 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên 53.442 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, ESOP và chào bán riêng lẻ cho nhà đầu tư trong và ngoài nước.‏

HDBank thông báo chốt quyền vào ngày 19/12/2025 để thực hiện chi trả cổ tức và thưởng cổ phiếu với tổng tỷ lệ gần 30%; theo đó tăng vốn điều lệ từ 38.594 tỷ đồng lên 50.053 tỷ đồng.‏ ‏VietinBank cũng tuyên bố chốt danh sách cổ đông vào ngày 18/12/2025 để phát hành 2,4 tỷ cổ phiếu trả cổ tức từ nguồn lợi nhuận còn lại các năm 2021, 2022 và giai đoạn 2009 - 2016, tương ứng tỷ lệ khoảng 44,64%; tăng vốn lên 77.670 tỷ đồng.‏..

Bước sang 2026, dự báo tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, khó khăn, thách thức, rủi ro, bất định gia tăng... Theo đó, toàn ngành Ngân hàng dự kiến tiếp tục tập trung điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác, nhằm giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

NHNN tiếp tục điều hành lãi suất, tỷ giá phù hợp với diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô, lạm phát và mục tiêu chính sách tiền tệ; triển khai đồng bộ các giải pháp quản lý thị trường vàng; chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an toàn, hiệu quả, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế...