Chuyên gia: Giải bài toán chuyển đổi xanh không thể chỉ nhìn việc ban hành thêm bao nhiêu văn bản
Khi chính sách xanh vẫn gặp khó bởi những “điểm giao” pháp lý
Chia sẻ với phóng viên bên lề Hội thảo khoa học “Hoàn thiện thể chế để thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” ngày 10/9, PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế cho hay, một trong những điểm nghẽn đáng chú ý nhất là hệ thống quy định liên quan đến hoạt động xanh còn phân tán.
PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế. Ảnh: M.T.
Một dự án năng lượng tái tạo, dự án tái chế hay mô hình kinh tế tuần hoàn không chỉ chịu sự điều chỉnh của pháp luật môi trường. Doanh nghiệp đồng thời phải đáp ứng các quy định về đầu tư, đất đai, xây dựng, tiêu chuẩn, thuế, tín dụng, hợp đồng và nhiều lĩnh vực khác.
Từng quy định nếu đứng riêng có thể hợp lý, nhưng khi cùng áp dụng cho một dự án lại có thể xuất hiện khoảng trống hoặc thiếu sự tương thích. PGS.TS Ngô Trí Long gọi đây là tình trạng “đứt gãy pháp lý trong chuỗi hoạt động kinh tế”.
Một ví dụ điển hình là hoạt động tái chế. Pháp luật có thể khuyến khích doanh nghiệp tái chế, nhưng nếu tiêu chuẩn kỹ thuật chưa cho phép vật liệu sau tái chế được sử dụng trở lại làm nguyên liệu đầu vào thì vòng tuần hoàn vẫn không thể khép kín.
Tương tự, một dự án được xác định thuộc lĩnh vực xanh có thể đủ điều kiện hưởng ưu đãi, nhưng nếu doanh nghiệp phải chứng minh đi chứng minh lại cùng một tiêu chí trước nhiều cơ quan thì chi phí tuân thủ có thể làm giảm đáng kể giá trị của chính sách hỗ trợ.
Bởi vậy, chất lượng thể chế xanh không chỉ thể hiện qua số lượng văn bản được ban hành. “Quan trọng hơn là doanh nghiệp có nhìn thấy một con đường pháp lý rõ ràng, thống nhất và có thể dự đoán được hay không”, PGS.TS Ngô Trí Long nhấn mạnh.
“Con đường” đó phải đủ rõ từ lúc doanh nghiệp hình thành ý tưởng, triển khai dự án, huy động vốn cho đến khi sản phẩm được đưa ra thị trường.
Đây cũng là điểm có ý nghĩa trực tiếp đối với dòng vốn tư nhân. Bởi một dự án dù được xác định là “xanh” nhưng quyền, nghĩa vụ và thủ tục pháp lý không đủ rõ ràng thì chi phí và rủi ro trong quá trình triển khai vẫn là những rào cản hiện hữu.
“Chất thải thành tài nguyên” không thể chỉ dừng ở khẩu hiệu
Một nút thắt khác được PGS.TS Ngô Trí Long đặc biệt lưu ý là ranh giới pháp lý giữa chất thải, phụ phẩm, nguyên liệu thứ cấp và hàng hóa.
Kinh tế tuần hoàn được hình thành khi đầu ra của một quá trình sản xuất có thể trở thành đầu vào của quá trình khác. Tuy nhiên, để dòng vật chất này thực sự vận hành, pháp luật phải xác định rõ khi nào một vật liệu không còn là chất thải và được phép trở thành nguyên liệu hợp pháp.
Nếu một vật liệu đã qua xử lý, đủ điều kiện tái sử dụng nhưng vẫn phải chịu toàn bộ cơ chế quản lý như chất thải, nguyên liệu tái chế có thể phải gánh chi phí lớn hơn nguyên liệu nguyên sinh.
Khi đó, bài toán không còn nằm ở việc doanh nghiệp có công nghệ tái chế hay không, mà nằm ở việc chi phí pháp lý có khiến mô hình tái chế mất đi tính kinh tế hay không.
PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng cần làm rõ “điểm kết thúc của chất thải”, song song với các tiêu chuẩn kỹ thuật, cơ chế truy xuất nguồn gốc và trách nhiệm pháp lý đủ chặt chẽ.
Việc này cần được thiết kế cân bằng. Nếu quy định quá chặt, nguyên liệu tái chế khó đi vào sản xuất; nhưng nếu quá lỏng, nguy cơ chất thải, kể cả chất thải nguy hại, được “hợp thức hóa” thành nguyên liệu cũng có thể xuất hiện.
Quan điểm này cũng được chuyên gia đặt ra đối với EPR. Theo ông, hiệu quả của EPR không nên chỉ được đánh giá qua số tiền doanh nghiệp phải đóng, mà phải nhìn vào việc cơ chế này có khiến sản phẩm dễ tái chế hơn, tăng sử dụng nguyên liệu tái chế và giảm lượng chất thải cuối cùng hay không.
“Nếu EPR cuối cùng chỉ trở thành một khoản tiền phải nộp thì chưa chắc đã đạt được mục tiêu của kinh tế tuần hoàn”, ông Long nhận định.
Cách tiếp cận này đặt trọng tâm trở lại bản chất của chính sách: không chỉ tạo thêm nghĩa vụ tài chính, mà phải thay đổi hành vi sản xuất và thiết kế sản phẩm của doanh nghiệp.
Chuyển đổi xanh là xu thế của doanh nghiệp. Ảnh: VGP.
Muốn vốn vào kinh tế xanh, trước hết phải giảm sự bất định
Một nền kinh tế xanh không thể chỉ dựa trên các quy định mang tính bắt buộc. Theo vị chuyên gia kinh tế, thể chế còn phải tạo ra động lực kinh tế đủ mạnh để lựa chọn xanh trở nên hấp dẫn hơn.
Theo đó, đầu tư xanh cần ngày càng có lợi hơn đầu tư không xanh; tái chế phải có sức hấp dẫn kinh tế hơn chôn lấp; nguyên liệu thứ cấp phải có khả năng cạnh tranh với việc tiếp tục khai thác tài nguyên nguyên sinh. Những vấn đề này liên quan trực tiếp đến tín dụng xanh, thuế, phí, tiêu chuẩn, mua sắm công và thị trường carbon.
Đặc biệt, sự xuất hiện của tín chỉ carbon và hạn ngạch phát thải đang đặt ra những vấn đề pháp lý mới. Khi những công cụ này có giá trị kinh tế và được phép giao dịch, câu chuyện không còn chỉ thuộc phạm vi quản lý môi trường mà liên quan đến quyền tài sản, hợp đồng, tài sản bảo đảm, phá sản hay xử lý tranh chấp.
Theo ông Long, chưa nhất thiết phải ngay lập tức xây dựng một đạo luật riêng về tài sản carbon. Điều cần làm trước tiên là rà soát toàn bộ vòng đời pháp lý của loại tài sản mới này để xác định phần nào pháp luật hiện hành đã điều chỉnh được, phần nào cần hướng dẫn và phần nào thực sự cần sửa đổi.
Cách tiếp cận này cũng phản ánh một quan điểm xuyên suốt trong tham luận của chuyên gia: không phải cứ xuất hiện vướng mắc là phải ban hành thêm quy định.
Có vấn đề phải sửa luật, có vấn đề cần điều chỉnh nghị định, thông tư, nhưng cũng có những điểm nghẽn chỉ bắt nguồn từ cách hiểu chưa thống nhất, dữ liệu chưa được chia sẻ hoặc khâu thực thi chưa hiệu quả.
Để xử lý tình trạng trên, PGS.TS Ngô Trí Long đề xuất rà soát pháp luật phục vụ chuyển đổi xanh theo chuỗi hoạt động kinh tế, thay vì tiếp tục xem xét từng đạo luật một cách riêng rẽ.
Ví dụ, với một vật liệu đã qua sử dụng muốn trở lại dây chuyền sản xuất, cơ quan quản lý cần xác định toàn bộ quy định mà vật liệu phải đi qua, nút thắt xuất hiện ở đâu, thuộc thẩm quyền của cơ quan nào và cần xử lý bằng công cụ gì.
Từ quá trình này có thể hình thành một “Danh mục điểm nghẽn pháp lý đối với chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn”, trong đó xác định cụ thể nguyên nhân, cơ quan chịu trách nhiệm và phương án tháo gỡ.
Đáng chú ý, PGS.TS Ngô Trí Long đề xuất thực hiện kiểm toán thủ tục hành chính xanh trong các lĩnh vực như năng lượng sạch, tái chế, EPR, nguyên liệu thứ cấp và thị trường carbon, theo hướng giảm yêu cầu cung cấp, kiểm tra trùng lặp dữ liệu, hạn chế hồ sơ giấy và tăng hậu kiểm dựa trên rủi ro.
Theo ông, thủ tục phức tạp, tiêu chí thiếu minh bạch và quyền tài sản chưa rõ ràng có thể cản trở dòng vốn và khiến doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, khó tham gia chuyển đổi xanh.
“Điểm nghẽn là chưa hình thành được một đường đi pháp lý đủ thông suốt”, PGS.TS Ngô Trí Long nhấn mạnh. Vì vậy, thay vì gia tăng số lượng văn bản, cần xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, minh bạch và dễ thực hiện, tạo điều kiện để các sáng kiến xanh đi từ ý tưởng đến dự án, sản phẩm và thị trường.