Khơi thông nguồn lực kinh tế tư nhân để tiến gần mục tiêu tăng trưởng hai con số

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV 09:22 | 13/10/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Muốn tăng trưởng hai con số, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào ngân sách và khu vực FDI. Cần khơi thông khả năng mở rộng sản xuất - kinh doanh của kinh tế tư nhân mạnh mẽ hơn nữa.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia. Ảnh: Báo Chính phủ

Tăng trưởng GDP 2026 có thể đạt 9,5-10% nếu phấn đấu quyết liệt

Theo số liệu từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính), GDP quý III/2026 ước tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I/2026 và 8,81% của quý II/2026. 9 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 9,01% so với cùng kỳ, cao nhất trong 15 năm gần đây.

Nhìn vào động lực tăng trưởng, có thể thấy xuất khẩu tăng trưởng rất mạnh (đạt 434 tỷ USD, tăng 24,5% so với đầu năm), một phần nhờ xu hướng tăng đầu tư vào công nghệ, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và AI của thế giới trong thời gian qua kéo theo xuất khẩu điện tử, linh kiện trong nước tăng mạnh. Tuy nhiên, Việt Nam cũng nhập khẩu nhiều đầu vào, nhập siêu hàng hóa dù đang giảm dần nhưng vẫn ở mức cao (19,4 tỷ USD) trong 9 tháng đầu năm 2026.

Một động lực quan trọng khác đến từ đầu tư. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng năm 2026 tăng 15,1% so cùng kỳ, trong đó vốn Nhà nước tăng 17,3% so cùng kỳ, vốn đầu tư của khu vực FDI tăng 14,5%, vốn tư nhân tăng 14%. Đặc biệt, thu hút FDI đạt kết quả rất tích cực với vốn đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76%; vốn FDI thực hiện tăng 12%, là mức cao nhất của 9 tháng trong vòng 5 năm gần đây. Giải ngân vốn đầu tư công đạt 661.800 tỷ đồng, tăng 19%, tương đương 60% kế hoạch năm và cao hơn cùng kỳ năm trước.

Về tiêu dùng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,8%, cao hơn mức tăng 7,2% của cùng kỳ năm ngoái dù vẫn thấp hơn mức trước dịch là khoảng 8,5%.

Kinh tế vĩ mô tiếp tục duy trì ổn định. Lạm phát tăng trong tầm kiểm soát. Tín dụng tăng tích cực, tính đến cuối tháng 9/2026 đạt 11,6%. Tỷ giá diễn biến khá êm, VND không những không mất giá so với USD mà còn tăng giá khoảng 1,3% so với đầu năm.

Với kết quả 9 tháng đầu năm 2026, nếu phấn đấu quyết liệt, tăng trưởng GDP cả năm 2026 có thể đạt 9,5- 10% với điều kiện quý IV phải tăng trưởng từ 11,5-12,5%, rất thách thức, nhưng cả hệ thống chính trị quyết liệt thì có thể khả thi.

 

Nếu phấn đấu quyết liệt, tăng trưởng GDP cả năm nay có thể đạt 9,5-10% với điều kiện quý IV/2026 phải tăng trưởng từ 11,5-12,5%.

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV

Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2011-2025 và dự báo 2026

 

 

Trong đó, động lực từ vốn đầu tư là rất quan trọng. Ước tính sơ bộ từ nay đến 2030, yếu tố vốn, bao gồm cả vốn tài chính và vốn phi tài chính như trang thiết bị, công nghệ và các nguồn vốn khác, vẫn đóng góp khoảng 40-42% vào tăng trưởng kinh tế Việt Nam.

Muốn tăng trưởng hai con số, nền kinh tế không thể chỉ dựa vào khu vực Nhà nước và FDI, cần khơi thông khả năng mở rộng sản xuất – kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân trong nước. Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân đã xác định rất rõ điều này, đặt mục tiêu đến năm 2030 tăng trưởng của khu vực tư nhân đạt 10-12%/ năm, cao hơn tăng trưởng chung của nền kinh tế; đóng góp khoảng 55% GDP...

Kinh tế tư nhân trước 7 thách thức lớn

Triển khai Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết 198/2025/QH15 về một số cơ chế, chính sách đặt biệt phát triển kinh tế tư nhân; Chính phủ cũng đã ban hành Nghị quyết số 138 và 139/2025 để triển khai Nghị quyết 198 của Quốc hội, cùng nhiều văn bản hướng dẫn khác...

Cùng đó là Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2025, hiệu lực 1/7/2025; Luật thuế Thu nhập Doanh nghiệp sửa đổi 2025, hiệu lực 1/10/2025; Luật Quản lý thuế 2025, hiệu lực 1/7/2026; Luật thuế Thu nhập cá nhân 2025, hiệu lực 1/7/2026; hay Luật Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2026 (thay thế Luật hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa 2017) chuẩn bị được ban hành...

Trong nỗ lực quyết liệt cải cách môi trường đầu tư - kinh doanh, Chính phủ cũng đã ban hành 11 Nghị quyết và 15 quyết định để cắt giảm, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính trong phạm vi các bộ, các lĩnh vực, các ngành...; và đã đạt được một số kết quả ban đầu.

Liên quan đến hỗ trợ phát triển lực lượng doanh nghiệp, Chính phủ cũng đã ban hành loạt chính sách đáng chú ý: đó là Quyết định 525 (2026) phê duyệt Chương trình đào tạo 10.000 giám đốc điều hành đến năm 2030; Quyết định 631 (2026) về Chương trình phát triển 1.000 doanh nghiệp tiên phong 2026-2030; Quyết định 1091(2026) phê duyệt Đề án hình thành doanh nghiệp công nghệ chiến lược trong nước (ít nhất 10 doanh nghiệp) đến 2030; Quyết định 1413 (2026) phê duyệt Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến năm 2045; Quyết định số 1809 (2026) phê duyệt Đề án phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam đến 2030...

Bên cạnh đó là nhiều chính sách hỗ trợ đã và đang được ban hành như giảm 30% thuế thu nhập cho cá nhân, doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng 2026-2027; đang đề xuất nâng ngưỡng áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản từ 3 tỷ đồng lên 10 tỷ đồng cho cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ.

Sau hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết 68, một số biến chuyển thực tế trong cộng đồng doanh nghiệp đã được ghi nhận. Đến hết tháng 8/2026, khoảng trên 5.000 hộ kinh doanh đã chuyển đổi thành doanh nghiệp nhỏ. Hơn 60% doanh nghiệp tư nhân đã chuyển đổi số cơ bản trong quản trị, kế toán và bán hàng; quy mô chi R&D của doanh nghiệp có tăng; một số tập đoàn tư nhân lớn đã tham gia sâu vào các dự án trọng điểm quốc gia (đường sắt đô thị, đại lộ ven Sông Hồng, cảng biển, hàng không...).

Tuy nhiên, kinh tế tư nhân nói chung và doanh nghiệp nói riêng vẫn đối diện 7 thách thức lớn trong quá trình đầu tư, mở rộng sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thứ nhất, rủi ro, bất định từ môi trường quốc tế gia tăng.

Thứ hai, môi trường chính sách trong nước thay đổi nhanh, đôi khi chưa đồng bộ và khó dự đoán; thủ tục hành chính còn phức tạp dù Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo rất quyết liệt. Theo khảo sát PCI 2025, 58-62% doanh nghiệp cho rằng khó dự đoán được thay đổi chính sách. Qua thực tế tiếp xúc, các doanh nghiệp FDI cũng kiến nghị rằng chính sách phải ổn định hơn, minh bạch và nhất quán hơn, dễ dự báo hơn và ít chi phí tuân thủ hơn.

Thứ ba, khả năng tiếp cận các nguồn lực vốn, đất đai, khoa học công nghệ... vẫn là bài toán lớn. Theo khảo sát của World Bank, 21,2% doanh nghiệp trong nước đánh giá tiếp cận tài chính là trở ngại lớn nhất, cao hơn mức bình quân 15,7% trong khu vực Đông Á - Thái Bình Dương hay như kết quả khảo sát của VCCI cho thấy 93,5% khoản vay của doanh nghiệp trong nước yêu cầu tài sản thế chấp so với mức 66,9% của khu vực.

Hạn chế một phần xuất phát từ bản thân doanh nghiệp: Đó là còn thiếu minh bạch, chưa chuẩn hóa sổ sách kế toán, chưa có phương án kinh doanh khả thi để thể hiện dòng tiền. Ngược lại, hệ thống tài chính cũng cần có những cơ chế, chính sách, sản phẩm tín dụng phù hợp hơn để dòng vốn đến được với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Rất mừng là gần đây đã có Đề án 1809 (2025), trong đó đặt mục tiêu cụ thể đến năm 2030 có ít nhất 300.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được vốn.

Biểu đồ 2: Nhóm 7 khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp năm 2025. Nguồn: Báo cáo PCI.

Thứ tư, chi phí kinh doanh (gồm chi phí vốn, logistics, mặt bằng, năng lượng, nhân công và chi phí tuân thủ...) tăng hoặc neo cao, trong khi giá đầu ra tăng ít, khiến biên lợi nhuận thu hẹp.

Thứ năm là câu chuyện về thị trường, cả đầu vào và đầu ra, khi chuỗi cung ứng thay đổi mạnh mẽ hoặc bị đảo lộn khiến kế hoạch kinh doanh phải điều chỉnh theo.

Thứ sáu, khả năng tiếp cận các chính sách hỗ trợ của các doanh nghiệp còn chưa đồng đều, nguồn lực hỗ trợ có nguy cơ tập trung nhiều hơn vào các doanh nghiệp lớn, trong khi doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh tiếp cận khó khăn hơn.

Thứ bảy là hạn chế về năng lực nội tại của chính doanh nghiệp: năng lực quản trị, công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo còn yếu và chưa đồng đều; thiếu nhân lực chất lượng cao; năng suất và sức cạnh tranh còn hạn chế - nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; liên kết với doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp lớn và chuỗi cung ứng còn yếu... Theo khảo sát của World Bank (2025), chỉ có khoảng 5,1% doanh nghiệp vừa và lớn trong nước chi cho R&D trong 5 năm qua, thấp hơn hẳn mức bình quân khu vực là 17,8%.

Những thách thức nói trên đòi hỏi phải được xử lý đồng bộ, nếu không mục tiêu tăng trưởng cao sẽ trở thành áp lực lớn lên doanh nghiệp. Khi môi trường kinh doanh trở nên minh bạch và dễ dự đoán hơn; các nút thắt về vốn, đất đai, thủ tục hành chính, tiếp cận thị trường và chi phí tuân thủ được tháo gỡ nhanh hơn; doanh nghiệp sẽ có cơ sở để mạnh dạn đầu tư, mở rộng sản xuất, từ đó nâng cao sức cạnh tranh.

Một số khuyến nghị

Từ những thách thức trên, chúng tôi khuyến nghị một số giải pháp với Chính phủ và cơ quan quản lý nhằm thúc đẩy khả năng mở rộng sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, của khu vực kinh tế tư nhân, hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Thứ nhất, kiên định, thúc đẩy quan hệ hợp tác cùng có lợi với Mỹ; hạn chế tối đa khả năng bị áp thuế quan theo Điều 301 và Điều 232 theo Luật Thương mại của Mỹ (1974); sớm ký kết Hiệp định thương mại đối ứng hai bên.

TS. Cấn Văn Lực: Cần đổi mới mô hình tăng trưởng; chính sách tài khóa là chủ lực, chính sách tiền tệ là bổ trợ; kích cầu đầu tư, tiêu dùng; giữ vững mặt trận xuất khẩu. Ảnh: Báo Chính phủ

Thứ hai, quyết tâm đạt mức tăng trưởng bình quân 10% giai đoạn 2026-2030, trong đó phấn đấu đạt mức cao nhất có thể ngay trong năm 2026. Theo đó, cần đổi mới mô hình tăng trưởng; chính sách tài khóa là chủ lực, chính sách tiền tệ là bổ trợ; kích cầu đầu tư, tiêu dùng; giữ vững mặt trận xuất khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ; khai thác tốt hơn các động lực tăng trưởng mới.

Thứ ba, nâng hạng thị trường chứng khoán đúng lộ trình; vận hành Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP HCM và Đà Nẵng, thị trường carbon, trung tâm giao dịch nhà đất; nâng cấp Sàn Giao dịch hàng hóa; bình ổn giá nhà đất, lãi suất, tỷ giá và thị trường vàng...

Thứ tư, kiên định ổn định kinh tế vĩ mô, phối hợp chính sách, kiểm soát lạm phát phù hợp, trong đó cần bình ổn giá xăng dầu, đảm bảo an ninh năng lượng, kiểm soát giá nhà ở và vật liệu xây dựng và giá lương thực – thực phẩm (ba nhóm này chiếm đến 84,4% mức tăng CPI chung).

Thứ năm, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế; xây dựng Đề án tăng nội lực, tính tự chủ, tự lực, tự cường; cùng với việc thúc đẩy chuyển đổi kép (xanh và số), đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh mạng, an ninh tài chính và chuỗi cung ứng.

Thứ sáu, quyết tâm, kiên định thực hiện thành công các Nghị quyết, chính sách đột phá; vận hành suôn sẻ mô hình chính quyền địa phương mô hình 2 cấp; quyết liệt cải thiện môi trường đầu tư – kinh doanh như đã đề ra; giải quyết kịp thời, hiệu quả những khó khăn, vướng mắc đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh thông qua đơn giản hóa thủ tục, hỗ trợ phần mềm miễn phí, đào tạo kế toán - thuế cơ bản, giảm chi phí tuân thủ, hướng dẫn hộ kinh doanh lên thành doanh nghiệp và thích ứng...; nâng cao chất lượng xây dựng và thực thi các văn bản pháp luật...

Khi lực lượng doanh nghiệp phát triển với quy mô đông đảo và lớn mạnh hơn; chi phí tuân thủ, khả năng tiếp cận vốn, mở rộng nhà xưởng, đầu tư công nghệ... được cải thiện, tác động tới tăng trưởng GDP sẽ rõ nét hơn và góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng.

TS. Cấn Văn Lực
Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV
Thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia