Một chỉ tiêu kinh tế vừa lập kỷ lục, mục tiêu năm liệu có sớm hoàn thành?
Theo Cục Thống kê, trong tháng 4, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 2,03 triệu lượt người, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng, khách quốc tế đến Việt Nam đạt 8,8 triệu lượt người, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất của 4 tháng đầu các năm từ trước đến nay.
“Môi trường chính trị - xã hội ổn định, an toàn; chính sách thị thực ngày càng thông thoáng; hoạt động xúc tiến, quảng bá được chuyên nghiệp hóa, cùng với hệ thống sản phẩm đa dạng, phù hợp xu hướng và chất lượng dịch vụ không ngừng được cải thiện, tạo nền tảng quan trọng để thu hút khách quốc tế đến Việt Nam”, Cục Thống kê lý giải.
Trong tổng số khách quốc tế đến Việt Nam, khách đến bằng đường hàng không đạt 7,3 triệu lượt người, chiếm 82,5% lượng khách quốc tế đến và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 1,4 triệu lượt người, chiếm 15,5% và tăng 47,6%; bằng đường biển đạt 174,3 nghìn lượt người, chiếm 2,0% và tăng 10,1%.
Châu Á là khu vực có nhiều khách quốc tế lớn nhất tại Việt Nam với gần 6,4 triệu lượt khách, tăng 7,2%. Tiếp đến là châu Âu với gần 1,6 triệu triệu lượt khách tăng 53,3%; châu Mỹ là hơn 514 nghìn lượt, tăng 20,2%; sau đó là châu Úc và châu Phi lần lượt là 270 nghìn lượt và 21,4 nghìn lượt, tăng 19,7% và 21,7%.
Khách quốc tế đến Việt Nam 4 tháng đầu năm 2026 phân theo vùng lãnh thổ. (Nguồn: Cục Thống kê)
Thực hiện hóa mục tiêu
Theo ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, năm 2026, ngành du lịch Việt Nam đặt mục tiêu đón 25 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 150 triệu lượt khách nội địa, tổng thu dự kiến khoảng 1,125 triệu tỷ đồng.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngay từ đầu năm, Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam phối hợp với các địa phương và doanh nghiệp lần đầu tiên tổ chức Lễ công bố kế hoạch Chương trình xúc tiến, quảng bá du lịch Việt Nam năm 2026. Điểm mới đáng chú ý là chương trình được xây dựng trên cơ sở tổng hợp toàn bộ hoạt động xúc tiến trong và ngoài nước của hệ thống từ Trung ương đến địa phương và doanh nghiệp.
“Cách làm này giúp các đơn vị chủ động kế hoạch, tăng phối hợp đồng bộ, hạn chế trùng lặp sự kiện, tối ưu nguồn lực xã hội hóa và tạo sức mạnh liên kết trên phạm vi toàn quốc, qua đó nâng cao hiệu quả tiếp cận thị trường và năng lực cạnh tranh của du lịch Việt Nam”, ông Khánh nêu rõ.
Cùng với chính sách thị thực, kết nối hàng không quốc tế cũng tiếp tục được cải thiện khi nhiều đường bay mới được mở, các tuyến bay đường dài được khôi phục và mở rộng, giúp du khách từ nhiều thị trường đến Việt Nam thuận lợi hơn.
Đặc biệt, trong bối cảnh du khách toàn cầu ngày càng coi trọng yếu tố an toàn và độ tin cậy, Việt Nam tiếp tục được đánh giá là điểm đến ổn định, thân thiện và hiếu khách, tạo cảm giác yên tâm trong suốt hành trình.
Trước đó, việc Chính phủ cũng mở rộng diện miễn thị thực, kéo dài thời gian tạm trú, triển khai thị thực điện tử với giá trị xuất nhập cảnh nhiều lần, bổ sung các cửa khẩu áp dụng e-visa và đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh đã giúp Việt Nam trở nên dễ tiếp cận hơn đối với du khách quốc tế.
"Những điều chỉnh này không chỉ gia tăng tính linh hoạt mà còn tạo lợi thế cạnh tranh rõ nét trong bối cảnh nhiều quốc gia trong khu vực đang tăng tốc thu hút khách", ông Khánh nhìn nhận.
Ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam. (Nguồn: Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam)
Ở góc độ doanh nghiệp, theo ông Nguyễn Tiến Đạt, CEO AZA Travel, du lịch Việt Nam vẫn còn dư địa tăng trưởng rất lớn, đặc biệt khi đặt trong tương quan so sánh với các quốc gia trong khu vực. Ví dụ, dù dân số chỉ bằng khoảng một nửa Việt Nam, diện tích và tài nguyên du lịch không vượt trội, Thái Lan vẫn đón khoảng 33 triệu lượt khách quốc tế trong năm 2025.
Trong khi đó, lượng khách quốc tế của Việt Nam mới chỉ đạt hơn một nửa con số này, cho thấy khoảng cách tăng trưởng còn đáng kể nếu tận dụng tốt tiềm năng hiện có.
Để tận dụng tốt cơ hội này, bên cạnh chính sách thị thực, đầu tư hạ tầng được xem là yếu tố mang tính quyết định trong trung và dài hạn. Chẳng hạn, khi sân bay Long Thành đi vào hoạt động, năng lực tiếp nhận khách quốc tế của Việt Nam sẽ được nâng cao đáng kể, mở ra cơ hội hình thành một trung tâm trung chuyển hàng không mới trong khu vực, tương tự Bangkok, Singapore hay Hong Kong.
Đồng thời, việc hoàn thiện các tuyến cao tốc, cầu đường kết nối các trung tâm du lịch lớn như TP HCM - Phan Thiết sẽ giúp rút ngắn thời gian di chuyển, nâng cao trải nghiệm và thúc đẩy mức chi tiêu của du khách.
Đáng chú ý, nguồn lực dành cho xúc tiến, quảng bá du lịch hiện vẫn còn hạn chế so với nhiều quốc gia trong khu vực. Trong khi Thái Lan, Hàn Quốc chi hàng trăm triệu USD mỗi năm cho hoạt động xúc tiến và duy trì hàng chục văn phòng đại diện du lịch ở nước ngoài, ngân sách xúc tiến của Việt Nam mới chỉ ở mức vài triệu USD mỗi năm và chưa có văn phòng đại diện chính thức tại các thị trường trọng điểm.
“Nếu tháo gỡ được các rào cản về thể chế, đồng thời tăng đầu tư cho xúc tiến du lịch theo hướng bài bản, chuyên nghiệp và tập trung đúng vào các thị trường trọng tâm, du lịch Việt Nam hoàn toàn có thể đạt và vượt mục tiêu đã đề ra”, ông Đạt kỳ vọng.