Ngành cao su trước bước ngoặt thanh lý vườn cây lâu năm, chuyển đổi quỹ đất

Thơ Hoàng 11:36 | 22/09/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Khoảng 55% diện tích cao su hiện đã trên 22 năm tuổi, mở ra giai đoạn doanh nghiệp đẩy mạnh thanh lý vườn cây nhằm tối ưu hiệu quả sử dụng vốn và nguồn lực tài chính. Trong khi đó, quỹ đất sau thanh lý đang trở thành dư địa tăng trưởng mới khi các doanh nghiệp cao su từng bước chuyển đổi sang phát triển khu công nghiệp, tạo thêm động lực bên cạnh hoạt động kinh doanh cốt lõi.

Nguồn cung cao su trong nước tăng chậm, triển vọng giá duy trì ở mức cao

Theo Chứng khoán KAFI, Việt Nam hiện đóng góp khoảng 8-9% sản lượng cao su tự nhiên (NR) toàn cầu và là nhà xuất khẩu cao su lớn thứ ba thế giới. Tuy nhiên, cơ cấu xuất khẩu cao su đang có sự thay đổi đáng chú ý khi tỷ trọng cao su tự nhiên thuần túy (NR) giảm dần từ khoảng 45% xuống còn 35%, trong khi cao su hỗn hợp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn.

Trong nhóm NR, Trung Quốc tiếp tục giữ vai trò ngày càng quan trọng. Tỷ trọng của thị trường này trong xuất khẩu NR của Việt Nam đã tăng trở lại vùng 40-45%, đồng thời khối lượng xuất khẩu cũng tăng mạnh, trong khi các thị trường còn lại gần như không thay đổi. Điều này cho thấy tăng trưởng xuất khẩu NR gần đây của Việt Nam phần lớn đến từ thị trường Trung Quốc.

 

Ở phía nguồn cung, sản lượng mủ cao su khai thác đã bắt đầu tăng chậm lại từ năm 2023. Theo Quyết định 431/QĐ-BNN-TT ngày 26/1/2024, đến năm 2030, diện tích cao su cả nước dự kiến còn khoảng 800.000-850.000 ha, giảm khoảng 6-12% so với năm 2024. Dù diện tích thu hẹp, sản lượng mủ cao su thô vẫn được đặt mục tiêu duy trì ở mức 1,3-1,5 triệu tấn/năm.

Đáng chú ý, hơn 55% diện tích cao su đang trong thời kỳ khai thác hiện đã trên 22 năm tuổi. Theo Chứng khoán KAFI, chu kỳ tái canh kéo dài khiến khả năng bổ sung nhanh nguồn cung từ các diện tích mới bị hạn chế. Đây là yếu tố có thể củng cố xu hướng nguồn cung cao su tăng trưởng chậm trong những năm tới, qua đó hỗ trợ mặt bằng giá nếu nhu cầu toàn cầu duy trì ổn định.

Doanh nghiệp cao su chuyển hướng khai thác giá trị quỹ đất

Bên cạnh hoạt động khai thác mủ, một xu hướng đáng chú ý đang diễn ra trong ngành cao su là các doanh nghiệp từng bước giảm diện tích vườn cây quá tuổi khai thác và chuyển sang khai thác giá trị quỹ đất, đặc biệt thông qua phát triển khu công nghiệp (KCN).

So với hoạt động trồng và khai thác cao su, việc chuyển đổi một phần quỹ đất sang KCN có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn trong dài hạn. Xu hướng này được hỗ trợ bởi định hướng mở rộng không gian công nghiệp tại Đông Nam Bộ, đặc biệt ở Tây Ninh, phía Bắc Bình Dương và phía Đông Đồng Nai - những địa bàn tập trung quỹ đất cao su lớn và có nhu cầu phát triển KCN ngày càng tăng.

 Khoảng 409.382 ha diện tích đất cao su có tuổi trên 22 năm. Nguồn KAFI 

Trong giai đoạn 2026-2027, một số dự án được kỳ vọng hoàn tất thủ tục pháp lý và công tác đền bù, tạo cơ sở để các doanh nghiệp cao su từng bước ghi nhận giá trị từ quỹ đất và lợi nhuận liên quan. Tổng diện tích các dự án được đề cập lên tới khoảng 2.874 ha.

Tại Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (GVR), các dự án đáng chú ý gồm KCN Minh Hưng III giai đoạn 2 với diện tích 483 ha, KCN Long Đức và KCN Bàu Cạn.

Trong khi đó, Cao su Tây Ninh (TRC) có hai dự án KCN Hiệp Thạnh, quy mô 496 ha, và KCN Thạnh Đức I, quy mô 500 ha. Cao su Phước Hòa (PHR) sở hữu các dự án KCN Bắc Tân Uyên 1, diện tích 704 ha, và VSIP III với diện tích 691 ha.

Theo quy hoạch sử dụng đất KCN quốc gia thời kỳ 2021-2030, tổng diện tích đất KCN đến năm 2030 được định hướng khoảng 210.930 ha. Trong đó, diện tích đất cao su dự kiến chuyển đổi trong giai đoạn 2026-2030 tại một số khu vực trọng điểm ước tính khoảng 5.183 ha tại TP.HCM, 2.000 ha tại Đồng Nai và 3.260 ha tại Tây Ninh.

Việc chuyển đổi này mở ra một hướng tăng trưởng mới cho các doanh nghiệp cao su, khi giá trị tài sản không chỉ đến từ hoạt động khai thác mủ mà còn từ quá trình chuyển đổi đất cao su sang các mục đích sử dụng có giá trị kinh tế cao hơn.

Theo KAFI, GVR sở hữu tổng quỹ đất có khả năng chuyển đổi sang KCN trong giai đoạn 2025-2030 lên tới khoảng 23.444 ha. Tập đoàn đang đẩy mạnh chuyển đổi hàng nghìn hecta đất cao su sang phát triển KCN tại Đồng Nai, với các dự án lớn như Long Đức, Bàu Cạn - Tân Hiệp và Xuân Quế - Sông Nhạn.

KAFI đưa ra giá mục tiêu đối với GVR ở mức 40.849 đồng/cổ phiếu. Với thị giá 32.400 đồng/cổ phiếu tại ngày 22/9, mức chênh lệch giữa giá mục tiêu và thị giá hiện tại khoảng 26%. Về định giá, GVR hiện giao dịch ở mức P/B khoảng 1,93 lần, thấp hơn mức bình quân 5 năm là 2,17 lần và tương đương P/B bình quân ngành 1,94 lần.

Đối với Cao su Phước Hòa (PHR), động lực tăng trưởng trong năm 2026 chủ yếu đến từ khoản tiền đền bù khoảng 2.103 tỷ đồng còn lại liên quan đến VSIP III và KCN Bắc Tân Uyên 1.

Theo KAFI, PHR có tiềm năng chuyển đổi khoảng 2.800 ha tại khu vực Bình Dương trước đây, trong đó khoảng 580 ha có thể chuyển sang phát triển KCN và 1.150 ha sang đất đô thị.

Đáng chú ý, VSIP III có quy mô khoảng 1.000 ha và đã thu hút nhiều dự án FDI lớn như LEGO, Pandora và SAM DigitalHub. Đây được xem là nền tảng cho quá trình phát triển KCN, đồng thời tạo nguồn thu đền bù cho PHR.

Ngoài quỹ đất, PHR còn sở hữu 20% tại VSIP III và 33% tại Nam Tân Uyên mở rộng giai đoạn 2, qua đó có thêm khả năng hưởng lợi từ triển vọng cho thuê KCN tại Bình Dương.

KAFI đưa ra giá mục tiêu 43.671 đồng/cổ phiếu đối với PHR, tương ứng mức chênh lệch khoảng 37% so với thị giá. Định giá PHR hiện ở mức P/B thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 5 năm khoảng 2,2 lần và P/B bình quân ngành 1,94 lần.

 Diễn biến giá cổ phiếu GVR, PHR, DPR từ đầu năm 2026 đến nay. Nguồn Tradingview 

Trong khi đó, Cao su Đồng Phú (DPR) nổi bật nhờ năng suất vườn cây trên 2 tấn/ha, cao hơn mức bình quân ngành khoảng 1,8 tấn/ha.

Triển vọng năm 2026 của DPR tiếp tục được hỗ trợ bởi mặt bằng giá cao su duy trì ở mức cao và hoạt động thanh lý vườn cây. Tuy nhiên, mảng KCN nhiều khả năng chưa đóng góp đáng kể trong ngắn hạn do các dự án vẫn đang trong quá trình hoàn thiện thủ tục pháp lý.

Theo KAFI, KCN Bắc Đồng Phú mở rộng và Nam Đồng Phú mở rộng đã được phê duyệt chủ trương đầu tư từ tháng 1/2025, tạo dư địa đóng góp dòng tiền trong 2-3 năm tới. Giá thuê dự kiến khoảng 70 USD/m² được đánh giá là mức cạnh tranh, qua đó có thể hỗ trợ khả năng thu hút khách thuê khi các dự án đi vào khai thác.

Một điểm đáng chú ý khác của DPR là cấu trúc tài chính. Từ năm 2023, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E) của doanh nghiệp đã giảm về 0 và tiếp tục được duy trì. DPR hiện nắm giữ gần 2.000 tỷ đồng tiền mặt, trong khi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh cùng triển vọng từ bất động sản KCN được kỳ vọng tiếp tục hỗ trợ khả năng tích lũy tiền mặt.

KAFI đưa ra giá mục tiêu 52.684 đồng/cổ phiếu đối với DPR. P/B hiện tại của doanh nghiệp khoảng 1,2 lần, tương đối sát mức bình quân 5 năm là 1,31 lần.

Ngành săm lốp chuyển dịch, mức độ hưởng lợi giữa các doanh nghiệp phân hóa

Không chỉ nhóm doanh nghiệp khai thác cao su, chuỗi giá trị săm lốp cũng đang ghi nhận những thay đổi đáng chú ý khi ngành này từng bước chuyển dịch từ lốp Bias sang lốp Radial và các dòng lốp chuyên dụng cho xe điện (EV).

Nhu cầu lốp xe điện tại Việt Nam đang tăng nhanh. Từ mức gần như bằng 0 trước năm 2022, tỷ trọng EV trong doanh số xe mới tại Việt Nam đã tăng lên khoảng 40% vào năm 2025, trong khi tỷ trọng EV trong tổng đội xe lưu hành đạt khoảng 10%.

Động lực tăng trưởng này chủ yếu đến từ sự phát triển nhanh của VinFast. Tuy nhiên, đối với ngành săm lốp trong nước, sự gia tăng nhanh của xe điện chưa chuyển hóa thành lợi ích tương ứng cho các doanh nghiệp nội địa. Nguyên nhân là các nhà cung ứng lốp cho VinFast hiện chủ yếu là doanh nghiệp FDI, trong khi Cao su Đà Nẵng (DRC) tập trung vào phân khúc lốp xe tải xuất khẩu.

Theo KAFI, về dài hạn, doanh số xe toàn cầu duy trì xu hướng tăng với CAGR khoảng 1,73% trong giai đoạn từ năm 2009 đến nay, tạo nền cầu tương đối ổn định cho cao su tự nhiên.

Trong năm 2026, triển vọng ngành săm lốp được dự báo có sự phân hóa rõ rệt. Những doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư, nâng cấp hạ tầng sản xuất lốp Radial có cơ hội gia tăng sản lượng xuất khẩu khi nhu cầu tại Mỹ và Brazil phục hồi. Ngược lại, các doanh nghiệp chậm chuyển đổi công nghệ hoặc phụ thuộc nhiều vào lốp Bias có thể tiếp tục chịu áp lực về doanh thu.

Theo KAFI, nhóm cổ phiếu săm lốp đáng theo dõi gồm DRC, SRC và CSM.

Tại DRC, doanh nghiệp duy trì tỷ lệ đòn bẩy tài chính ở mức thấp, với D/E khoảng 0,5 lần. P/E hiện ở mức 12,4 lần và ROE đạt 6,5%. Cao su Thống Nhất (SRC) hiện có mức định giá P/E khoảng 53,3 lần, trong khi D/E đạt 0,8 lần và ROE khoảng 4,5%.

Trong khi đó, Công nghiệp Cao su Miền Nam (CSM) tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định. Doanh nghiệp hiện có D/E khoảng 1,4 lần, P/E 22,8 lần và ROE 3,1%.