Quỹ của Dragon Capital tăng mạnh tỷ trọng POW giữa lúc thị trường biến động, điều gì đang thay đổi ở PV Power?

Khải Nguyên 15:55 | 17/08/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Trong bối cảnh Dragon Capital thừa nhận năm 2026 là giai đoạn đầu tư khó, DCDS tăng mạnh tỷ trọng tiền mặt và giảm tỷ trọng ở nhiều nhóm cổ phiếu. Tuy nhiên, POW lại được quỹ gia tăng nắm giữ đáng kể trong hai tháng gần đây, đúng lúc PV Power bước vào giai đoạn mở rộng công suất mới với Nhơn Trạch 3&4 bắt đầu đóng góp rõ vào sản lượng và doanh thu.

Tại Investor Day H2.2026, ông Lê Anh Tuấn, Tổng Giám đốc Dragon Capital, ví năm nay là giai đoạn có “rất nhiều ổ gà, cũng không ít ổ trâu và thậm chí có ổ voi”.

Theo lãnh đạo Dragon Capital, ngay cả những chiến lược từng phát huy hiệu quả trong các giai đoạn trước cũng gặp khó trong năm nay. Đầu tư theo xu hướng không còn cho kết quả như kỳ vọng, trong khi việc lựa chọn các cổ phiếu có tăng trưởng lợi nhuận tốt cũng không đồng nghĩa giá cổ phiếu sẽ diễn biến thuận lợi.

Bức tranh này phần nào phản ánh ở danh mục Quỹ Đầu tư Chứng khoán Năng động DC (DCDS). Từ cuối năm 2025 đến cuối tháng 7, tỷ trọng tiền mặt của quỹ tăng từ 7,9% lên 25,2%, trong khi tỷ trọng 10 khoản đầu tư lớn nhất giảm từ 57,5% xuống 48,9%.

 

Ở cấp độ ngành, DCDS giảm đáng kể tỷ trọng bất động sản dân cư từ 15,7% xuống 5,6%, chứng khoán từ 9% xuống 3,5% và phần mềm từ 3,2% xuống 0,5%. Trong khi đó, năng lượng tăng từ 3,5% lên 4,3%, còn tiện ích tăng từ mức gần như không đáng kể lên 3,3%.

Năng lượng cũng là nhóm đóng góp tích cực nhất vào hiệu suất DCDS từ đầu năm đến cuối tháng 7, khoảng 0,6 điểm phần trăm, trong khi hiệu suất chung của quỹ ở mức âm 14,1%.

Trong bối cảnh quỹ duy trì vị thế thận trọng hơn, một thay đổi đáng chú ý là việc gia tăng nắm giữ cổ phiếu Tổng Công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam - CTCP (PV Power - Mã: POW).

Theo các báo cáo danh mục hàng tháng, cuối tháng 5 DCDS nắm giữ khoảng 1,7 triệu cổ phiếu POW, tương ứng giá trị thị trường hơn 23 tỷ đồng và chiếm 0,37% danh mục. Đến cuối tháng 7, lượng nắm giữ đã tăng lên 8,8 triệu cổ phiếu, trị giá hơn 120 tỷ đồng và chiếm hơn 2% danh mục.

Như vậy, lượng cổ phiếu POW do DCDS nắm giữ đã tăng hơn 5 lần chỉ sau hai tháng, đưa mã này vào nhóm 10 khoản đầu tư lớn nhất của quỹ.

Dragon Capital không công bố luận điểm cụ thể phía sau việc tăng tỷ trọng POW. Tuy nhiên, thời điểm DCDS gia tăng nắm giữ trùng với giai đoạn hoạt động của PV Power có những thay đổi rõ hơn sau khi Nhơn Trạch 3&4 đi vào vận hành.

Nhơn Trạch 3&4 bắt đầu thay đổi quy mô của PV Power

Theo thông tin PV Power công bố, lũy kế 7 tháng đầu năm, tổng doanh thu toàn tổng công ty đạt 38.540 tỷ đồng, thực hiện khoảng 77% kế hoạch doanh thu năm. Sản lượng điện lũy kế đạt hơn 15,25 tỷ kWh, tương đương gần 71% kế hoạch cả năm.

Riêng trong tháng 7, Nhơn Trạch 3&4 tiếp tục là nguồn đóng góp doanh thu bán điện lớn nhất với gần 1.634 tỷ đồng, dù sản lượng phát khoảng 401 triệu kWh, thấp hơn Cà Mau 1&2 và Vũng Áng 1. Tính theo số liệu PV Power công bố, doanh thu bán điện bình quân trên mỗi kWh phát của Nhơn Trạch 3&4 vào khoảng 4.070 đồng, cao hơn đáng kể các nhà máy hiện hữu.

(Nguồn: PV Power).

Diễn biến này nối tiếp mức đóng góp đã hình thành trong nửa đầu năm. Theo báo cáo phân tích của Kafi, riêng Nhơn Trạch 3&4 mang về khoảng 9.317 tỷ đồng doanh thu trong 6 tháng đầu năm, tương đương hơn 28% doanh thu hợp nhất của PV Power. Cụm nhà máy bổ sung 1.624 MW công suất, đánh dấu lần mở rộng công suất đáng kể sau gần một thập kỷ công ty chủ yếu khai thác các nhà máy hiện hữu.

Còn VPBankS phân tích, sản lượng điện của PV Power trong quý II đạt 7,37 tỷ kWh, tăng 50% so với cùng kỳ. Trong đó, riêng Nhơn Trạch 3&4 đóng góp 1,73 tỷ kWh; Nhơn Trạch 2 tăng 54%, Vũng Áng 1 tăng 20% và Nhơn Trạch 1 tăng 13%. Lũy kế 6 tháng, tổng sản lượng đạt hơn 13 tỷ kWh, tăng 42% và thực hiện khoảng 60% kế hoạch năm.

Doanh thu quý II đạt 20.308 tỷ đồng, tăng 116% so với cùng kỳ. Lợi nhuận sau thuế đạt 3.708 tỷ đồng, tăng 386% và là mức cao nhất theo quý kể từ khi công ty đi vào hoạt động.

Dù vậy, mức tăng lợi nhuận có một phần đáng kể đến từ yếu tố không thường xuyên. VPBankS cho rằng khoảng 1.600 tỷ đồng doanh thu hồi tố chênh lệch tỷ giá nhiều khả năng đã được ghi nhận trong quý II. Nếu loại trừ khoản này, lợi nhuận sau thuế còn khoảng 2.108 tỷ đồng, vẫn tăng 176% so với cùng kỳ.

Nói cách khác, kết quả quý II không chỉ được nâng bởi khoản hồi tố tỷ giá. Sản lượng của các nhà máy hiện hữu cải thiện, trong khi Nhơn Trạch 3&4 đã bắt đầu tạo ra phần doanh thu đủ lớn để làm thay đổi quy mô hoạt động của PV Power.

 

Kỳ vọng được nâng lên, nhưng bài toán vận hành cũng lớn hơn

Sau kết quả quý II, ACBS đã điều chỉnh tăng dự phóng hoạt động của PV Power trong năm 2026.

Theo báo cáo ngày 6/8, bộ phận phân tích dự báo sản lượng điện cả năm đạt khoảng 22,45 tỷ kWh, tăng 21% so với năm trước. Doanh thu dự kiến đạt 54.739 tỷ đồng, tăng gần 60%, còn lợi nhuận sau thuế đạt 7.123 tỷ đồng, tăng 137%.

ACBS cho biết việc nâng dự báo dựa trên kỳ vọng sản lượng huy động cải thiện tại các nhà máy nhiệt điện trong bối cảnh nguồn cung khí trong nước tốt hơn, nhu cầu điện phục hồi và khả năng El Niño quay trở lại có thể hỗ trợ thêm cho huy động nhiệt điện. Công ty chứng khoán này ước tính P/E dự phóng năm 2026 của POW khoảng 6 lần.

Dự phóng kết quả kinh doanh của PV Power. (Nguồn: Báo cáo cập nhật của ACBS).

Tuy nhiên, môi trường vận hành trong ngắn hạn không hoàn toàn thuận lợi.

Theo thông tin PV Power công bố, trong nửa đầu tháng 7, mưa tại miền Bắc khiến nền nhiệt giảm, qua đó kéo nhu cầu phụ tải và giá điện thị trường toàn phần xuống thấp hơn giai đoạn tháng 3-6. Giá FMP bình quân tháng 7 dự kiến khoảng 1.250 đồng/kWh, thấp hơn chi phí biến đổi nhiên liệu khí.

Trong bối cảnh đó, các nhà máy điện khí phải chào giá bám sát sản lượng điện hợp đồng (Qc), chỉ tăng sản lượng khi hệ thống thiếu nguồn và cần huy động các tổ máy có giá cao hơn. Diễn biến này cho thấy quy mô công suất mới không tự động chuyển thành sản lượng và lợi nhuận cao hơn trong mọi thời điểm.

Việc Nhơn Trạch 3&4 đi vào hoạt động cũng kéo theo áp lực chi phí vốn. VPBankS ghi nhận chi phí lãi vay quý II đạt 518 tỷ đồng, tăng 276% so với cùng kỳ do dư nợ tăng và chi phí vay liên quan đến hai nhà máy không còn được vốn hóa sau khi đi vào vận hành.

Đối với hai nhà máy LNG mới, giá nhiên liệu và sản lượng huy động là những biến số đáng kể. Kafi lưu ý giá LNG tăng có thể làm giảm khả năng cạnh tranh của Nhơn Trạch 3&4 so với các nguồn điện có chi phí thấp hơn, từ đó ảnh hưởng đến sản lượng huy động và biên lợi nhuận.

Một yếu tố khác được giới phân tích theo dõi là đề xuất nâng tỷ lệ Qc tối thiểu của điện LNG từ 65% trong 10 năm lên 75% trong 15 năm. Nếu được thông qua, cơ chế này có thể hỗ trợ khả năng thu hồi vốn của Nhơn Trạch 3&4, song đây vẫn là yếu tố chính sách cần tiếp tục theo dõi.

Cụm nhà máy điện Nhơn Trạch 3 & 4. (Ảnh: PV Power).

Những biến số này cũng phù hợp với cách Dragon Capital đang nhìn thị trường chung. Dù lợi nhuận doanh nghiệp nửa đầu năm tăng mạnh và mặt bằng định giá đã hạ xuống, nhà quản lý quỹ cho rằng điều đó chưa đủ để mua rộng toàn thị trường trong bối cảnh lãi suất còn cao và diễn biến giá cổ phiếu phân hóa.

Dragon Capital hiện ưu tiên cách tiếp cận có chọn lọc hơn, đồng thời duy trì tỷ trọng tiền mặt phù hợp để ứng phó với biến động.

Với POW, Nhơn Trạch 3&4 đã bắt đầu tạo ra thay đổi rõ về sản lượng và quy mô doanh thu, còn các dự báo sau quý II cũng được điều chỉnh theo hướng tích cực hơn. Tuy nhiên, hiệu quả của phần công suất mới trong các kỳ tới vẫn phụ thuộc vào khả năng huy động, giá LNG, chi phí vốn và cơ chế Qc.

Do đó, việc DCDS tăng mạnh tỷ trọng POW là một thay đổi đáng chú ý trong bối cảnh quỹ đang thận trọng hơn với thị trường, nhưng chưa đủ cơ sở để coi đây là sự xác nhận cho một kịch bản tăng trưởng đã chắc chắn.