TP HCM hướng đến mô hình 'đô thị 20 - 60 phút' trong quy hoạch 100 năm

Tiến Dũng 08:40 | 20/07/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Phương hướng phát triển TOD của TP HCM định hướng thay đổi tư duy tốc độ di chuyển sang tập trung nâng cao tính tiếp cận. Mục tiêu nhằm thiết lập mô hình Đô thị 20 - 60 phút.

Một góc TP HCM. (Ảnh tư liệu: Hải Quân).

TP HCM đang lấy ý kiến về dự thảo Quy hoạch tổng thể thời kỳ 2025 - 2050, tầm nhìn 100 năm.

Về chiến lược và phương hướng phát triển TOD, quy hoạch định hướng thay đổi tư duy từ chú trọng “Tốc độ di chuyển” sang tập trung nâng cao “Tính tiếp cận”.

Mục tiêu chiến lược quy hoạch không gian hướng tới việc thiết lập mô hình Đô thị 20 - 60 phút, đảm bảo khả năng tiếp cận dịch vụ và tiện ích tối ưu cho cư dân, tạo nền tảng cho quản trị và phát triển đô thị bền vững.

Định hướng tổ chức không gian ưu tiên thúc đẩy mô hình phát triển đô thị nén gắn liền với việc tối ưu hóa và áp dụng hệ số sử dụng đất một cách linh hoạt. Bên cạnh đó, tập trung thực hiện công tác tái thiết các khu vực đất công nghiệp cũ hoặc hiệu quả sử dụng thấp dọc theo các hành lang ưu tiên phát triển.

Để hoàn thiện hệ sinh thái kinh tế - kỹ thuật đồng bộ, tiến trình thực thi sẽ tập trung nâng cao năng lực và tỷ lệ đảm nhận của hệ thống giao thông công cộng, mục tiêu cụ thể đạt 35 - 40% vào năm 2045 và tiến tới đạt 50 - 60% vào năm 2050.

Trở thành Siêu đô thị Đa cực - Tích hợp - Siêu kết nối 

Vùng đô thị TP HCM hướng tới trở thành Siêu đô thị "Đa cực - Tích hợp - Siêu kết nối", chuyển đổi từ mô hình phát triển lan tỏa phụ thuộc đường bộ sang cấu trúc vùng đô thị giao thông công cộng.

Quy hoạch lấy mạng lưới 28 tuyến đường sắt đô thị với tổng chiều dài lên tới khoảng 1.100 km và hệ thống đường sắt quốc gia làm xương sống kết nối liên vùng, hướng tới xây dựng mô hình đô thị tiếp cận hiệu quả.

Tính đến năm 2030, quỹ đất tiềm năng phát triển TOD đạt khoảng 21 nghìn ha, trong đó đất tiềm năng cao chiếm 36%; tiềm năng trung bình 18% và tiềm năng thấp 46%.

Mục tiêu chiến lược được chia làm ba giai đoạn phát triển, trong đó giai đoạn 2025 - 2030 (thí điểm và hoàn thiện thể chế) sẽ phê duyệt quy hoạch, triển khai thí điểm 5-7 khu vực TOD dọc tuyến metro 1, metro 2 và nút giao Vành đai 3.

Đưa tổng chiều dài mạng lưới metro đạt 187 km, tỷ lệ đáp ứng của giao thông công cộng lên đạt 35-50% nhu cầu. Kích hoạt toàn diện quỹ phát triển TOD Fund và hoàn thành khép kín tuyến Vành đai 3.

Giai đoạn 2030 - 2035 (mở rộng mạng lưới TOD) sẽ đưa vào hoạt động từ 10-15 nút TOD lớn. Phát triển mạng lưới metro đạt tổng chiều dài 275 km. Nâng thị phần giao thông công cộng toàn vùng đạt 50 - 60%, rút ngắn thời gian di chuyển giữa lõi trung tâm và các đô thị vệ tinh liên tỉnh xuống dưới 1 giờ. Hoàn thành toàn bộ tuyến Vành đai 4 vào 2029.

Cuối cùng, giai đoạn 2035 - 2045 (hoàn thiện mô hình Metropolis TOD) là hoàn chỉnh mạng lưới 700 km đường sắt đô thị liên thông toàn vùng, nâng thị phần giao thông công cộng vượt ngưỡng 60%.

Bên cạnh đó, đảm bảo 80% cư dân đô thị sống trong bán kính 10 phút đi bộ đến các nhà ga. Giảm thiểu trên 30% phương tiện cơ giới cá nhân, hướng tới mục tiêu đạt phát thải ròng bằng không (Net Zero) vào năm 2050.

Tuyến metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên. (Ảnh tư liệu: Hải Quân).

Định hình 6 hành lang động lực và 3 cấp độ TOD 

Phương án phát triển không gian vùng mở rộng định hình 6 hành lang TOD động lực gồm Hành lang metro số 1 Bến Thành - Suối Tiên là hành lang ưu tiên cao nhất, đang trong giai đoạn vận hành thương mại, tập trung khai thác các nút trọng điểm.

Hành lang metro số 2 Bến Thành - Tham Lương đóng vai trò trục kết nối xuyên tâm hướng Tây Bắc đi qua vùng dân cư mật độ rất cao, tập trung định hướng chức năng nhà ở mật độ cao kết hợp thương mại dịch vụ và hạ tầng xã hội.

Hành lang trọn trục Vành đai 3 và Vành đai 4 tạo cơ hội phát triển các nút giao cắt giữa đường vành đai và đường sắt thành các cụm TOD logistics liên vùng, khu công nghiệp thông minh và cảng cạn ICD thế hệ mới.

Hành lang công nghiệp phía Bắc là trục TOD công nghiệp - dịch vụ kết nối từ TP HCM lên Thủ Dầu Một, Bến Cát. Các đô thị Thuận An, Dĩ An có vai trò nút trung chuyển liên tỉnh kết nối tuyến metro số 1 kéo dài và hệ thống BRT dọc Quốc lộ 13 với chức năng hỗn hợp công nghiệp sạch, đô thị dịch vụ và nhà ở công nhân.

Hành lang cảng biển phía Đông Nam phát triển theo mô hình cảng biển và du lịch sinh thái. Trọng tâm là nút Phú Mỹ và nút TP Vũng Tàu định hướng theo mô hình TOD du lịch - dịch vụ MICE và đô thị biển.

Hành lang đô thị sáng tạo TP Thủ Đức tập trung phát triển dựa trên hệ sinh thái đại học, công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển (R&D) gắn liền với các ga lớn của Tuyến Metro số 1.

Hệ thống không gian được cấu trúc thành 3 cấp độ TOD, trong đó TOD cấp vùng là các đầu mối giao thông trọng điểm, tích hợp đa phương thức vận tải tốc độ cao kết nối liên vùng.

Các vị trí bao gồm cụm TOD Sân bay Tân Sơn Nhất (kết nối Long Thành); TOD Ga Sóng Thần, An Bình và Ga Dĩ An với vai trò trung chuyển hàng hóa xuyên Á và công nghiệp đường sắt; TOD Bến xe Miền Đông mới; Cụm TOD cảng Hiệp Phước, bến Cát Lái - Phú Hữu và siêu tổ hợp cảng biển quốc tế Cái Mép - Thị Vải.

TOD cấp thành phố có vai trò là các điểm hạt nhân điều tiết, phân phối lưu lượng giao thông toàn thành phố và định hình cấu trúc đô thị nén, đa cực.

Điển hình gồm ga trung tâm Bến Thành (điểm giao cắt phức hợp của Metro 1, 2, 3A, 4); TOD An Sương kết nối trục Quốc lộ 22 đi Tây Ninh; TOD Miền Tây kết nối vùng ĐBSCL; TOD Ngã tư Ga (Quận 12) và TOD Thủ Thiêm (đầu mối trục chính phía Đông).

TOD cấp khu vực là các điểm phân tán tại trung tâm quận/huyện mới và đô thị vệ tinh, đóng vai trò giải tỏa mật độ dân cư và gom khách qua mạng lưới xe buýt, buýt đường thủy.

Điển hình là cụm ga trên cao dọc trục Võ Nguyên Giáp; các ga dọc trục Cách Mạng Tháng Tám - Trường Chinh; TOD vệ tinh ngoại vi Củ Chi, Bình Chánh; và mô hình Water-TOD tích hợp mạng lưới đường thủy (Bến Bạch Đằng, Linh Đông, Thanh Đa).