10 vấn đề pháp lý cần lưu ý khi đầu tư chứng khoán

14:37 19/10/2021 Theo dõi Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên Google news
Chia sẻ

Khi đầu tư chứng khoán để tránh những rủi ro một số vấn đề về pháp lý các nhà đầu tư cần lưu ý 10 vấn đề.

Theo cập nhật từ Trung tâm Lưu ký chứng khoán (VSD), tính đến cuối tháng 4/2021, tổng số tài khoản giao dịch chứng khoán trên thị trường Việt Nam đã đạt hơn 3,14 triệu tài khoản, tăng 110.655 đơn vị so với tháng liền trước. Trong đó, đa phần là tài khoản mở mới của nhà đầu tư cá nhân trong nước, số lượng tới 109.998 tài khoản mới – điều này đồng nghĩa đã có gần 110 ngàn nhà đầu tư F0 gia nhập thị trường.

Những nhà đầu tư này, chắc chắn không ít là những người cóđể tránh những rủi ro một số vấn đề về pháp lý các nhà đầu tư cần lưu ý tiền nhưng chưa có kiến thức hoặc kinh nghiệm thực chiến. Do vậy, để tránh những rủi ro một số vấn đề về pháp lý các nhà đầu tư cần lưu ý như sau:

1. Lưu ý chủ thể được tham gia giao dịch, đầu tư chứng khoán.

Theo Luật Chứng khoán 2019 thì không có quy định cụ thể, chi tiết về điều kiện độ tuổi được tham gia giao dịch chứng khoán. Tuy vậy, trên thực tế các Công ty chứng khoán thường quy định độ tuổi tối thiểu để mở tài khoản giao dịch là 18 tuổi, khi có các giấy tờ tùy thân như Chứng minh thư nhân dân, Thẻ căn cước công dân.

Hiện nay, Bộ Tài chính đang chủ trì soạn thảo Thông tư hướng dẫn giao dịch chứng khoán đã đưa ra quy định chi tiết độ tuổi được mở tài khoản chứng khoán. Cụ thể, cá nhân đủ 15 tuổi có thể được mở tài khoản giao dịch chứng khoán nhưng phải được người đại diện pháp luật đồng ý. Còn cá nhân đủ 18 tuổi thì được mở tài khoản vì đã có đủ năng lực hành vi dân sự.

Như vậy, đây là lần đầu tiên có hướng dẫn cụ thể về độ tuổi được tham gia giao dịch, đầu tư chứng khoán, và cách tiếp cận đang theo hướng độ tuổi mà trẻ em được thực hiện thủ tục cấp CMND, thẻ căn cước công dân. Tuy nhiên, do độ tuổi 15 chưa đủ năng lực hành vi dân sự, giao dịch trong thị trường chứng khoán lên xuống theo thị trường, rủi ro cao, nên sẽ phát sinh các vấn đề cần phải được làm rõ như ai sẽ là người đầu tư, giao dịch trực tiếp, năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ thì các lệnh giao dịch có hiệu lực.

Bên cạnh đó, Luật Chứng khoán hiện hành không có quy định về độ tuổi tối đa được phép đầu tư, tham gia chứng khoán, vậy nên mọi người có thể tham gia khi đáp ứng được quy định về độ tuổi tối thiểu.

Ngoài ra, liên quan đến vấn đề cán bộ công chức, viên chức có được đầu tư chứng khoán hay không thì hiện nay Luật không cấm.

Theo quy định tại Luật Chứng khoán 2019, Chứng khoán và đầu tư chứng khoán được hiểu như sau: Chứng khoán là một loại tài sản có thể giao dịch. Bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng chỉ quyền, quyền mua cổ phẩm, chứng chỉ quyền có đảm bảo, chứng chỉ lưu ký; chứng khoán phái sinh và các loại chứng khoán khác được quy định bởi Chính phủ. Đầu tư chứng khoán là việc mua, bán, nắm giữ chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.

Theo quy định tại Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020; Theo quy định tại Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 thì không có sự hạn chế việc cán bộ, công chức, viên chức đầu tư chứng khoán, mua cổ phần, cổ phiếu. Do đó, trong hoạt động đầu tư chứng khoán không giới hạn việc người tham gia đầu tư.

2. Tìm hiểu, lựa chọn loại tài sản chứng khoán để đầu tư phù hợp

Khi tham gia đầu tư chứng khoán thì tùy thuộc vào tài chính, kiến thức, nhu cầu mà mỗi nhà đầu tư sẽ lựa chọn cho mình loại tài sản để đầu tư cho phù hợp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 thì: “1. Chứng khoán là tài sản, bao gồm các loại sau đây:

a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;

b) Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký;

c) Chứng khoán phái sinh;

d) Các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định.”

Vậy những loại tài sản như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ,… nó là gì, có gì khác biệt để các nhà đầu tư có thể tự lựa chọn hay không. Theo đó, Luật chứng khoán 2019 có đưa ra khái niệm như sau:

10 vấn đề pháp lý cần lưu ý khi đầu tư chứng khoán - Ảnh 1

Trong báo cáo thị trường trái phiếu doanh nghiệp quý 2/2021 do Công ty Chứng khoán Sài Gòn - SSI Reasearch vừa công bố cho thấy, lượng phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã tăng vọt trong quý 2/2021 với 164 nghìn tỷ đồng, gấp 3,66 lần lượng phát hành trong quý 1/2021 và tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2020.

Trong số những trái phiếu doanh nghiệp vừa phát hành có loại trái phiếu có tài sản bảo đảm và loại không có tài sản bảo đảm, với mức lãi suất huy động cao. Khi sự việc bình thường, doanh nghiệp phát hành trái phiếu kinh doanh thuận lợi, trả các khoản tiền gốc lãi đúng hạn; nhưng nếu phát sinh các sự kiện dẫn đến tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không thuận lợi, doanh nghiệp không chi trả được gốc lãi theo đúng hạn, không có tài sản bảo đảm để xử lý việc thanh toán thì những rủi ro này thuộc về nhà đầu tư.

Vậy nên, khi tham gia vào đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư cần xem xét loại hình tài sản, chứng khoán mà mình đầu tư ở đây là gì để rà soát, xác định các mức độ rủi ro và có phương án bảo đảm phù hợp. Trở lại ví dụ nêu trên về việc đầu tư trái phiếu thì để hạn chế rủi ro, nhà đầu tư cần xem doanh nghiệp nào phát hành, mục đích phát hành để làm gì, có tài sản đảm bảo hay không có tài sản đảm bảo; cam kết của doanh nghiệp phát hành đối với trái phiếu là như thế nào; kỳ hạn phát hành, phương thức trả nợ gốc, lãi,…

3. Các hình thức đầu tư trong thị trường chứng khoán

Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư trên thị trường chứng khoán. Mục đích chính của các nhà đầu tư vẫn là tìm kiếm lợi nhuận. Pháp luật chứng khoán rất coi trọng việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư và coi đó là nguyên tắc khi xây dựng Luật chứng khoán.

Nhà đầu tư chứng khoán thường được phân chia thành hai loại là nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư không chuyên nghiệp.

Theo cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam, nhà đầu tư chuyên nghiệp là người có chứng chỉ hành nghề chứng khoán; những tổ chức có tư cách pháp nhân, như công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán và những định chế tài chính khác như: ngân hàng, công ty tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm,… Nhà đầu tư không chuyên nghiệp là những cá nhân, tổ chức khác trong nền kinh tế.

Pháp luật có những quy định riêng về nhà đầu tư chuyên nghiệp vì nhà đầu tư chuyên nghiệp có nguồn vốn lớn, vì vậy có khả năng đầu tư lớn nên có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến thị trường chứng khoán; có khả năng phân tích và đầu tư tương đối chính xác, nên đảm bảo cho thị trường phát triển đúng hướng; và nhà đầu tư chuyên nghiệp là cầu nối giữa những nhà đầu tư không chuyên nghiệp với thị trường chứng khoán. Thông qua việc uỷ thác cho nhà đầu tư chuyên nghiệp, các nhà đầu tư không chuyên nghiệp sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn trong việc đầu tư vào thị trường chứng khoán.

Về mặt pháp lý, trong hoạt động đầu tư, về cơ bản các nhà đầu tư đều bình đẳng. Nhà đầu tư chuyên nghiệp, nếu có chịu một số ràng buộc của pháp luật nhiều hơn là do nhà nước muốn đảm bảo sự công bằng và sự phá triển lành mạnh của thị trường chứng khoán. Xét một cách khái quát, nhà đầu tư chuyên nghiệp khác với nhà đầu tư không chuyên nghiệp ở những điểm sau đây:

10 vấn đề pháp lý cần lưu ý khi đầu tư chứng khoán - Ảnh 2

4. Tìm hiểu thông tin, quy mô của doanh nghiệp và nơi thực hiện giao dịch trên thị trường chứng khoán của doanh nghiệp mà mình chuẩn bị đầu tư.

Trên hệ thống thị trường giao dịch chứng khoán thì có hệ thống giao dịch cho chứng khoán niêm yết và chưa niêm yết. Niêm yết chứng khoán là việc đưa chứng khoán có đủ điều kiện niêm yết vào giao dịch trên hệ thống giao dịch cho chứng khoán niêm yết. Hệ thống giao dịch cho chứng khoán chưa niêm yết (hệ thống giao dịch Upcom) là hệ thống giao dịch cho chứng khoán chưa niêm yết do Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội tổ chức. Vậy nên, ở đây doanh nghiệp sẽ được phân chia đủ điều kiện niêm yết và chưa niêm yết.

Những công ty chào bán cổ phiếu ra công chúng thường là Công ty đại chúng. Theo quy định tại Điều 32 Luật Chứng khoán 2019 thì công ty đại chúng là công ty cổ phần thuộc một trong hai trường hợp sau đây:

“a) Công ty có vốn điều lệ đã góp từ 30 tỷ đồng trở lên và có tối thiểu là 10% số cổ phiếu có quyền biểu quyết do ít nhất 100 nhà đầu tư không phải là cổ đông lớn nắm giữ;

b) Công ty đã thực hiện chào bán thành công cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông qua đăng ký với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Luật này.”

Ở đây có dạng Công ty đại chúng đã niêm yết và Công ty đại chúng chưa niêm yết. Công ty đại chúng chưa niêm yết là công ty đã phát hành cổ phiếu nhưng không được giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán và ở đây các công ty này giao dịch trên hệ thống Upcom (Unquoted Public Company).

Thị trường giao dịch cổ phiếu các công ty đại chúng chưa niêm yết thường có tính minh bạch thấp hơn so với các sàn giao dịch của công ty đại chúng đã niêm yết. Bởi điều kiện để một công ty đại chúng niêm yết có nhiều điều kiện khắt khe, yêu cầu tổ chức hoạt động của doanh nghiệp hơn. Lý do để cho rằng, giao dịch đối với các công ty đại chúng chưa niêm yết là thiếu minh bạch, rủi ro, bởi cố phiếu của các công ty này được niêm yết và mua bán ở thị trường OTC.

Trong thị trường OTC, người môi giới kinh doanh niêm yết giá cổ phiếu tại mức họ sẽ mua và bán cổ phiếu. Tuy nhiên, hai nhà đầu tư (một người mua và người bán) có thể thực hiện giao dịch trên thị trường OTC mà không cần các nhà đầu tư khác biết được mức giá mà giao dịch hoàn thành. Điều này có nghĩa rằng, cổ phiếu không có sẵn để giao dịch và việc mua bán không được nhanh chóng, hay dễ dàng. Trong khi đó, với các công ty đã niêm yết, giao dịch trên sàn thì việc mua bán thuận lợi, do đây là thị trường mở, các nhà đầu tư mua bán nhanh chóng nếu muốn giao dịch.

Ngoài ra, định giá giá cổ phiếu của các công ty này cũng khó khăn hơn, do các thông tin không có sẵn cho nhà đầu tư, tính thanh khoản kém, dẫn đến khó khăn trong việc định giá cổ phiếu.

Vậy nên, khi tham gia đầu tư, nhà đầu tư cần biết để lựa chọn sàn mà mình thực hiện giao dịch, doanh nghiệp mà mình dự kiến đầu tư để lựa chọn phù hợp.

5. Cần nắm bắt thông tin mà Doanh nghiệp cung cấp, đăng tải để có sách lược cho quá trình đầu tư

Hoạt động đầu tư chứng khoán, việc nắm bắt thông tin là cơ sở quan trọng nhất để nhà đầu tư có thể đưa ra các lựa chọn để bán hay mua thêm cổ phiếu.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật Chứng khoán 2019, Khoản 1 Điều 2 Thông tư 96/2020/TT-BTC thì các đối tượng phải công bố thông tin bao gồm:

“a) Công ty đại chúng;

b) Tổ chức phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra công chúng;

c) Tổ chức phát hành thực hiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng;

d) Tổ chức niêm yết trái phiếu doanh nghiệp;

đ) Công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; chi nhánh công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam và chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam (sau đây gọi là chi nhánh công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam); văn phòng đại diện công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ nước ngoài tại Việt Nam; quỹ đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng;

e) Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con (sau đây gọi là Sở giao dịch chứng khoán), Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam;

g) Nhà đầu tư thuộc đối tượng công bố thông tin theo quy định pháp luật.”

Việc công bố thông tin phải đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định pháp luật. Đối tượng công bố thông tin phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin công bố. Trường hợp có sự thay đổi nội dung thông tin đã công bố, đối tượng công bố thông tin phải công bố kịp thời, đầy đủ nội dung thay đổi và lý do thay đổi so với thông tin đã công bố trước đó.

Việc công bố thông tin của tổ chức phải do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền công bố thông tin thực hiện. Việc công bố thông tin của cá nhân do cá nhân tự thực hiện hoặc ủy quyền cho tổ chức hoặc cá nhân khác thực hiện.

Các thông tin công bố định kỳ, thông tin về việc đăng ký công ty đại chúng phải được lưu giữ dưới dạng văn bản (nếu có) và dữ liệu điện tử tối thiểu 10 năm. Các thông tin này phải được lưu giữ và truy cập được trên trang thông tin điện tử của đối tượng công bố thông tin tối thiểu là 05 năm. Các thông tin công bố bất thường, theo yêu cầu hoặc các hoạt động khác phải được lưu giữ và truy cập được trên trang thông tin điện tử của đối tượng công bố thông tin tối thiểu là 05 năm.

Những thông tin mà Công ty đại chúng phải công bố thông tin định kỳ về một hoặc một số nội dung sau đây:

“a) Báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán, báo cáo tài chính 06 tháng đã được soát xét bởi tổ chức kiểm toán được chấp thuận, báo cáo tài chính quý;

b) Báo cáo thường niên;

c) Báo cáo tình hình quản trị công ty;

d) Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông thường niên;

đ) Thông tin khác theo quy định của pháp luật.”

Do đó, nhà đầu tư muốn xem các thông tin mà doanh nghiệp cung cấp thì có thể lên các trang thông tin như website của doanh nghiệp để nắm bắt thông tin, phục vụ cho hoạt động đầu tư của mình.

Thông tin của doanh nghiệp phải được công khai, minh bạch, nhằm ngăn ngừa những hành vi vi phạm pháp luật như giao dịch nội gián, thâu tóm doanh nghiệp bất hợp pháp...Trường hợp doanh nghiệp vi phạm, che dấu thông tin thì nhà đầu tư có thể phản ảnh thông tin đến UBCKNN.

6. Lựa chọn nơi đầu tư, sàn giao dịch hợp pháp được cấp phép, trách việc bị lừa đảo với những sàn giao dịch ảo.

Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng thì chúng ta thường nghe thấy rất nhiều nội dung như sàn giao dịch chứng khoán phái sinh A, sàn đầu tư Forex B, sàn đầu tư C,…; và một thời gian thì lại có các nội dung đơn thư, trình báo cơ quan công an về việc khi đầu tư trên các sàn này thì bị mất tiền, sàn “bị sập”. Vậy, các nhà đầu tư nên tham gia đầu tư tại những nơi nào, đơn vị nào sẽ tổ chức, vận hành quản lý hệ thống giao dịch chứng khoán.

Theo khoản 26, Điều 4 Luật Chứng khoán 2019 thì “hệ thống giao dịch chứng khoán bao gồm hệ thống giao dịch cho chứng khoán niêm yết và hệ thống giao dịch cho chứng khoán chưa niêm yết, do Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con của Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam (sau đây gọi là Sở giao dịch chứng khoán Việt Nam và công ty con) tổ chức, vận hành.”

Như vậy, theo quy định thì cơ quan nhà nước thành lập tổ chức để quản lý, vận hành thị trường chứng khoán nhằm bảo đảm các tổ chức tham gia thực hiện, tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Hiện có các đơn vị như sau: Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX); Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE),..

Tuy nhiên, để cho nhà đầu tư có thể nắm thông tin rõ hơn về thị trường, thông tin về cổ phiếu, thông tin giao dịch, tin tức của tổ chức phát hành, dữ liệu ngành, doanh nghiệp và qua đó tư vấn, tham mưu thì sẽ có các đơn vị trung gian, kênh môi giới đó chính là các công ty chứng khoán.

Theo đó, các công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ gồm môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán (Điều 72 Luật Chứng khoán 2019). Ngoài ra, công ty chứng khoán cũng kết hợp với cơ quan quản lý để kiểm soát thông tin nhà đầu tư, tránh các hành vi sai trái trên thị trường chứng khoán.

Do việc thành lập, điều kiện hoạt động của các Công ty chứng khoán rất khắt khe, được cơ quan nhà nước cấp phép, buộc đảm bảo điều kiện, yêu cầu về vốn, nhân sự, cơ sở vật chất (Điều 74, Điều 75 Luật Chứng khoán 2019) nên các nhà đầu tư thực hiện giao dịch, sử dụng dịch vụ thì đều được đảm bảo.

Hiện nay, có một số Công ty chứng khoán như sau: Công ty Cổ phần Chứng khoán VNDIRECT (VND); Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI); Công ty Cổ phần Chứng khoán MB (MBS); Công ty TNHH Chứng khoán Vietcombank (VCBS); Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC); Công ty Cổ phần Chứng khoán FPT (FPTS); Công ty Cổ phần Chứng khoán Bản Việt (VCSC). Công ty chứng khoán ngân hàng Việt Nam thịnh vượng – VPS,…..

Từ những thông tin nêu trên, khi thực hiện tham gia đầu tư chứng khoán, nhà đầu tư cần lựa chọn nơi giao dịch, đơn vị môi giới uy tín, đã được cấp phép, tránh tin vào những lời dụ dỗ, thông tin không chính xác của các đơn vị khác hoạt động trái pháp luật.

7. Các loại thuế, phí cần lưu ý trong hoạt động đầu tư chứng khoán

Đầu tư chứng khoán cần rất nhiều công sức, thời gian lẫn tiền bạc để đầu tư. Chính vì vậy, bất cứ một chi phí nào phát sinh nhà đầu tư cũng cần phải nắm rõ. Nhà đầu tư cần nắm rõ các loại thuế, phí khi mua bán chứng khoán để có cơ sở tính toán lời lỗ thực tế.

Các khoản thuế, phí mà nhà đầu tư phải chi trả chính gồm:

*Thuế thu nhập khi bán chứng khoán

Tại Điều 16 Thông tư 92/2015/TT-BTC, quy định về thuế suất và cách tính thuế sau:

- Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng chứng khoán được xác định là giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần.

- Giá chuyển nhượng chứng khoán được xác định như sau:

+ Đối với chứng khoán của Công ty đại chúng giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán, giá chuyển nhượng chứng khoán là giá thực hiện tại Sở Giao dịch chứng khoán. Giá thực hiện là giá chứng khoán được xác định từ kết quả khớp lệnh hoặc giá hình thành từ các giao dịch thỏa thuận tại Sở Giao dịch chứng khoán.

+ Đối với chứng khoán không thuộc trường hợp nêu trên, giá chuyển nhượng là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng hoặc giá thực tế chuyển nhượng hoặc giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có chứng khoán chuyển nhượng tại thời điểm lập báo cáo tài chính gần nhất theo quy định của pháp luật về kế toán trước thời điểm chuyển nhượng.

- Thuế suất và cách tính thuế: Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần. Cách tính thuế:

Thuế TNCN phải nộp = Giá CN chứng khoán từng lần x Thuế suất 0,1%

* Thuế nhận cổ tức bằng tiền mặt

Trường hợp khi Doanh nghiệp mà bạn đầu tư chứng khoán tiến hành phân chia cổ tức bằng tiền mặt hoặc bằng cổ phiếu, bạn được nhận thì phải chịu thuế Thu nhập cá nhân 5%. Cụ thể, tại khoản 3, Điều 2, Thông tư 111/2013/TT-BTC, thể hiện: “Thu nhập từ đầu tư vốn là khoản thu nhập cá nhân nhận được dưới các hình thức: b) Cổ tức nhận được từ việc góp vốn mua cổ phần; g) Thu nhập từ cổ tức trả bằng cổ phiếu, thu nhập từ lợi tức ghi tăng vốn.”

Tại khoản 4, Điều 10 Thông tư 111/2013/TT-BTC, thể hiện: Căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn là thu nhập tính thuế và thuế suất; thuế suất được tính là 5%.

Cổ tức được chia bằng tiền mặt sẽ bị khấu trừ luôn tại nguồn, tức là doanh nghiệp khấu trừ, nộp hộ cho cá nhân được hưởng cổ tức, theo quy định tại điểm d, khoản 5, Điều 7 Nghị định 126/2020/NĐ-CP. Đối với cổ tức được chia bằng cổ phiếu ngoài khoản tiền thuế nêu trên, trường hợp nhà đầu tư mua bán chứng khoán thì vẫn chịu các khoản thuế khác khi bán chứng khoán.

* Phí giao dịch

Ngoài khoản thuế phải nộp, nhà đầu tư còn phải trả các mức phí khi giao dịch chứng khoán tại Công ty chứng khoán mà mình đã mở tài khoản. Đây là một khoản phí mà bạn phải chi trả khi thực hiện hoạt động mua hoặc bán chứng khoán thành công. Phí này thu dựa trên phần trăm giá trị mua bán trong ngày. Đây là loại phí chiếm chủ đạo trong các loại thuế, phí mà nhà đầu tư cần quan tâm.

Mức phí hay tỷ lệ phần trăm là do Công ty chứng khoán thu trên cơ sở cung cấp dịch vụ cho khách hàng có thể thực hiện được giao dịch thành công, và mức biểu phí đã được quy định giới hạn cụ thể tại Thông tư 128/2018/TT-BTC. Mức phí giao dịch hiện nay các Công ty chứng khoán đang thu phí, phổ biến từ 0.2 – 0.3%/giá trị giao dịch.

Mức phí giao dịch sẽ được Công ty chứng khoán tạm trừ khi nhà đầu tư thực hiện việc đặt lệnh và được thu khi lệnh giao dịch khớp. Trường hợp lệnh đặt không khớp thì mức phí tạm trừ này sẽ được phía Công ty chứng khoán hoàn trả lại.

* Phí lưu ký chứng khoán

Lưu ký là hoạt động ghi nhận và lưu giữ quyền sở hữu chứng khoán vào hệ thống lưu ký tại Trung Tâm Lưu Ký của UBCKNN. Vậy phí lưu ký chứng khoán là tiền phí mà các nhà đầu tư phải trả cho dịch vụ này. Tuy nhiên, phí này chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ, cụ thể tại Thông tư 127/2018/TT-BTC thì mức phí lưu ký là 0,3 đồng/cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng quyền có bảo đảm/tháng; 0,2 đồng/trái phiếu doanh nghiệp.

Lưu ý rằng phí lưu ký chứng khoán chỉ bắt đầu được tính từ ngày nhà đầu tư bắt đầu sở hữu thực sự chứng khoán. Ví dụ: Nhà đầu tư mua cổ phiếu vào 10/6 thì đến 14/6 mới sở hữu cổ phiếu. Vậy phí lưu ký bắt đầu được tính vào ngày 14/6 đến khi bán cổ phiếu.

Ngoài các khoản thuế, phí nêu trên thì còn một số khoản phí liên quan đến giao dịch khác mà nhà đầu tư có thể chi trả như phí giao dịch ngoài sàn, phí chào mua công khai, phí dịch vụ tin nhắn SMS,…. Nhà đầu tư sẽ phải trả một khoản chi phí rất nhiều, nếu nhà đầu tư thường xuyên thực hiện các giao dịch ngắn. Vậy nên, khi thực hiện giao dịch, nhà đầu tư cần lưu ý tần suất thực hiện giao dịch, và các nghĩa vụ thuế, phí của mình để đảm bảo tối đa lợi nhuận.

8. Lưu ý một số hành vi vi phạm pháp luật và chế tài xử lý khi đầu tư chứng khoản

Có rất nhiều nhà đầu tư cho rằng khi mình đã tham gia chứng khoán, các tài sản mà mình đã đầu tư là của mình, vậy nên việc mua bán, thực hiện giao dịch là tự do. Nhận định trên là không đúng, bởi lẽ, mặc dù các tài sản là của nhà đầu tư, việc mua bán là quyền của nhà đầu tư, tuy nhiên nhà nước vẫn có sự quản lý để tránh các hành vi trục lợi, gây ảnh hưởng đến thị trường, đến các nhà đầu tư khác.

Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, hành vi đã thực hiện mà người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật (Điều 132 Luật Chứng khoán 2019). Một số lỗi thường gặp mà người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính, như sau:

- Hành vi giao dịch vượt quá giá trị đăng ký

Ngày 12/5/2021, Thanh tra UBCKNN xử phạt hành chính đối với ông Lưu Đức Giang - thành viên HĐQT kiêm Phó Tổng Giám đốc CTCP Nhôm sông Hồng (mã chứng khoán: NSH). Theo đó, ông Giang bị phạt tiền 30 triệu đồng vì đã có hành vi vi phạm hành chính giao dịch vượt quá giá trị đăng ký. Được biết, ông Giang đăng ký giao dịch cổ phiếu NSH có giá trị 1.575.890.000 đồng theo mệnh giá (tương ứng 157.589 cổ phiếu NSH) từ ngày 30/12/2020 đến ngày 22/01/2021. Đến ngày 18/02/2021, ông Giang đã mua 187.700 cổ phiếu NSH (vượt 30.111 cổ phiếu, tương ứng 301.110.000 đồng theo mệnh giá so với giá trị đăng ký giao dịch).

- Hành vi giao dịch không đúng thời gian đăng ký

Ngày 11/5/2021, Thanh tra UBCKNN xử phạt ông Kiều Văn Linh - người có liên quan với ông Kiều Thế Vinh - Thành viên Hội đồng quản trị CTCP CMC (mã chứng khoán CVT). Theo đó, ông Linh bị phạt 17,5 triệu đồng vì giao dịch không đúng thời gian đã đăng ký khi đăng ký bán 64.000 cổ phiếu CVT từ ngày 30/11/2020. Tuy nhiên, trước đó, ngày 26/11/2020, ông Kiều Văn Linh đã bán hết số cổ phiếu này.

- Hành vi công bố thông tin không đúng thời hạn

Ngày 11/5/2021, Thanh tra UBCKNN xử phạt ông Tưởng Thành Tiến với hành vi công bố thông tin không đúng thời hạn khi sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của một công ty đại chúng. Được biết, ngày 13/01/2020, ông Tiến thực hiện giao dịch mua 8.000 cổ phiếu của CTCP Xây lắp Phát triển Nhà Đà Nẵng (mã chứng khoán: NDX), dẫn đến tỷ lệ sở hữu sau giao dịch tăng vượt ngưỡng 5% khối lượng cổ phiếu lưu hành của NDX và trở thành cổ đông lớn của NDX. Tuy nhiên, đến ngày 28/7/2020, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội mới nhận được công bố thông tin về trở thành cổ đông lớn của ông này.

- Hành vi không báo cáo về việc dự kiến giao dịch

Ngày 10/5/2021, Ủy ban UBCKNN xử phạt ông Võ Anh Hùng - Phó Tổng Giám đốc CTCP Dược – Thiết bị y tế Đà Nẵng (mã chứng khoán: DDN) với số tiền 5 triệu đồng vì đã có hành vi vi phạm hành chính không báo cáo về việc dự kiến giao dịch. Cụ thể, ngày 11/9/2020, ông Võ Anh Hùng bán 13.000 cổ phiếu DDN nhưng không báo cáo về việc dự kiến giao dịch.

- Hành vi không báo cáo khi có thay đổi về số lượng cổ phiếu sở hữu vượt quá các ngưỡng 1% số lượng cổ phiếu

Ngày 10/5/2021, Ủy ban UBCKNN ông Chen Yu - chủ tài khoản số 061FIA939 mở tại CTCP Chứng khoán Đầu tư Việt Nam, đã có hành vi vi phạm hành chính không báo cáo khi có thay đổi về số lượng cổ phiếu sở hữu vượt quá các ngưỡng 1% số lượng cổ phiếu.

Theo đó, từ ngày 25/8/2020 đến ngày 26/8/2020, ông Chen Yu đã bán 86.300 cổ phiếu TTZ và mua 86.300 cổ phiếu TTZ, dẫn đến đến tỷ lệ sở hữu sau giao dịch vượt ngưỡng 1% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của TTZ (giảm từ ngưỡng 9% xuống ngưỡng 8% và tăng từ 8% lên ngưỡng 9%). Tuy nhiên, Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội không nhận được báo cáo của ông Chen Yu khi có thay đổi về số lượng cổ phiếu sở hữu vượt quá các ngưỡng 1% số lượng cổ phiếu.

Đối với vấn đề về xử lý trách nhiệm hình sự, thì Bộ luật Hình sự 2015 dành 04 Điều, từ Điều 209 đến Điều 212 để quy định về các hành vi tội phạm trong lĩnh vực chứng khoán, gồm: Điều 209, Tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán; Điều 210, Tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán; Điều 211, Tội thao túng thị trường chứng khoán; Điều 212, Tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán.

Trong những tội danh nêu trên, thì hành vi thao túng thị trường chứng khoán là hành vi diễn ra thường xuyên hơn và người vi phạm chưa đánh giá được các chế tài xử lý vi phạm. Đơn cử: Tháng 4/2015, Công ty CP Công nghiệp khoáng sản Bình Thuận (KSA) có kế hoạch tăng vốn điều lệ từ 373,7 tỷ đồng lên 1.044 tỷ đồng thông qua chào bán 56 triệu cổ phần cho cổ đông hiện hữu và 11 triệu cổ phần cho cổ đông chiến lược.

Sau khi được UBCKNN chấp thuận, KSA tiến hành chào bán cổ phần, nhưng không có cổ đông hiện hữu nào đăng ký mua, ngoại trừ bà Phạm Thị Hinh, cựu Chủ tịch HĐQT KSA khi đó. Bà Hinh sau đó cùng với một số người khác tự tạo ra các giao dịch ảo, tự nâng giá cổ phiếu KSA, thông qua việc sử dụng 69 tài khoản để liên tục mua, bán nhằm tạo ra cung cầu giả tạo trên thị trường. Tổng cộng có gần 1.500 nhà đầu tư tham gia mua - bán cổ phiếu, thiệt hại ước tính cho nhà đầu tư là hơn 8 tỷ đồng. Bà Hình sau đó cùng các đồng phạm đã bị khởi tố, điều tra với tội danh “Tội thao túng thị trường chứng khoán”.

9. Cần chú ý liên quan đến việc yêu cầu bồi thường thiệt hại và cách thức bảo vệ quyền lợi khi có thiệt hại xảy ra.

Hệ thống giao dịch của Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HOSE) xuất hiện hiện tượng nghẽn lệnh lần đầu vào nửa cuối tháng 12/2020. Việc nghẽn lệnh dẫn tới việc các Công ty chứng khoản phải thông báo yêu cầu khách hàng dừng hủy lệnh, sửa lệnh trong một số thời điểm nhất định. Tình trạng nghẽn lệnh đặt biệt gay gắt vào những thời điểm đầu phiên và cuối phiên, gây ra tình trạng sai lệch thông tin trên màn hình hiện thị dữ liệu khiến nhà đầu tư bị mất phương hướng trong quá trình giao dịch.

Thiệt hại cho nhà đầu tư đã xảy ra, vậy trường hợp này ai sẽ là người chịu trách nhiệm và nhà đầu tư cần phải làm gì?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 132 Luật Chứng khoán 2019 thì “Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.”

Theo quy định tại khoản 2, Điều 133 Luật Chứng khoán 2019 về Giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại: “Chủ thể xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, thực hiện các trách nhiệm dân sự khác theo thỏa thuận, theo quy định của Bộ luật Dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.”

Theo như các quy định nêu trên thì khi xảy ra thiệt hại, nhà đầu tư có quyền yêu cầu người gây ra sự cố phải bồi thường thiệt hại. Đối với sự cố nghẽn mạng, sập mạng nêu trên thì vấn đề cơ chế chính sách quản lý và chế tài khi sự cố xảy ra ở Việt Nam chưa được giải quyết triệt để. Hiện nay chưa có đơn vị, tổ chức nào đứng ra nhận trách nhiệm, thực hiện việc bồi thường.

Ở Mỹ và các nước khác thì có cơ chế giải quyết rất kịp thời, trách nhiệm, đơn cử tháng 3/2018, sàn giao dịch chứng khoán New York (NYSE) đã bị các cơ quan quản lý chứng khoán Mỹ phạt 14 triệu USD cho các vi phạm bao gồm việc để ngừng giao dịch trong vòng 3 tiếng rưỡi trong tháng 7/2015. Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) cho biết mức phạt này là mức phạt lớn nhất từ trước đến nay. Trước đó, tại Nhật Bản vào tháng 12/2005, ông Takuo Tsurushima đã chính thức thôi giữ chức chủ tịch Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (Nhật Bản) sau “sự cố J-com”.

Trở lại sự việc tại Việt Nam, các bên cho rằng lý do nghẽn hệ thống là lượng giao dịch quá lớn nên bị nghẽn, không ai nhận trách nhiệm. Trong khi đó, để tham gia giao dịch trên sàn chứng khoán HOSE nhà đầu tư thường thông qua các Công ty chứng khoán. Nhà đầu tư không trực tiếp thực hiện việc đặt lệnh với Sở giao dịch mà chủ yếu thông qua các Công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán cung cấp phần mềm và hạ tầng kỹ thuật để nhà đầu tư đặt lệnh, sửa lệnh, hủy lệnh để khớp lệnh trên hệ thống máy của HOSE. Việc sập sàn chứng khoán dẫn tới các lệnh không được thực hiện theo đúng thiết kế kỹ thuật.

Khi thực hiện thông qua các Công ty chứng khoán thì mỗi Công ty sẽ có một bản hợp đồng mở tài khoản riêng với nhà đầu tư và các quyền, nghĩa vụ của nhà đầu tư với Công ty chứng khoán đó sẽ được điều chỉnh bởi hợp đồng. Nhà đầu tư sử dụng dịch vụ và có trả phí, nghĩa vụ của Công ty chứng khoán là phải đảm bảo hạ tầng kỹ thuật đủ đảm bảo để nhà đầu tư thực hiện việc đặt lệnh, hủy lênh, sửa lệnh và không được phép để xảy ra tình trạng sập sàn chứng khoán. Vậy nên, nếu thiệt hại xảy ra cho nhà đầu tư thì Công ty chứng khoán có nghĩa vụ bồi thường.

Tuy nhiên, để thực hiện các quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại thì Nhà đầu tư cần xem xét ngay trong các Hợp đồng với Công ty chứng khoán có các điều khoản nào loại trừ nghĩa vụ, rủi ro mà Công ty chứng khoán đưa ra hay không. Bởi, nếu Công ty chứng khoán đưa ra trường hợp nghẽn mạng, sập mạng do lưu lượng người truy cập đông, sàn giao dịch chứng khoán không hoạt động được nên được miễn trừ trách nhiệm bồi thường thì rủi ro lại được chuyển về cho nhà đầu tư.

Do đó, nhà đầu tư khi tham gia Hợp đồng cần lưu ý, đàm phán các nội dung về bồi thường thiệt hại, các điều khoản bất khả kháng, miễn trừ để có thể yêu cầu bên có lỗi phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

10. Một số lưu ý vấn đề giải quyết tranh chấp trong hoạt động đầu tư chứng khoán

Theo quy định tại Điều 133 Luật Chứng khoán 2019 thì: “Trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong hoạt động về chứng khoán và thị trường chứng khoán bị xâm phạm hoặc có tranh chấp phát sinh trong hoạt động chứng khoán và thị trường chứng khoán tại Việt Nam thì việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp hoặc giải quyết tranh chấp được thực hiện thông qua thương lượng, hòa giải hoặc yêu cầu Trọng tài hoặc Tòa án Việt Nam giải quyết theo quy định của pháp luật.

Theo quy định nêu trên thì khi xảy ra tranh chấp, nhà đầu tư có thể giải quyết thông qua thương lượng, hòa giải hoặc yêu cầu Trọng tài, Tòa án giải quyết. Đối với mỗi phương thức thì có những ưu, nhược điểm riêng. Theo đó, với phương thức thương lượng thì tiết kiệm được thời gian, chi phí phù hợp với tranh chấp đơn giản, giá trị tranh chấp không lớn.

Đối với phương thức hòa giải thì Luật Chứng khoán đã có quy định đặc thù, khi các bên có tranh chấp thì có thể lựa chọn giải quyết với sự hỗ trợ của người thứ ba đóng vai trò trung gian hòa giải - Sở Giao dịch Chứng khoán (tại khoản 1, Điều 46 Luật Chứng khoán 2019). Với đơn vị có chuyên môn trong lĩnh vực chứng khoán, là bên trung gian nên việc giải quyết tranh chấp đạt hiểu quả cao nếu các nên tuân thủ thực hiện các thỏa thuận.

Đối với giải quyết tranh chấp tại Tòa án hay Trọng tài thì các bên phải tuân theo trình tự thủ tục tố tụng, phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành với các bên. Tuy nhiên, đối với phương thức Tòa án thì thời gian giải quyết vụ án thông thường sẽ lâu hơn so với Trọng tài, nhưng phán quyết của Trọng tài có thể bị hủy bỏ bởi Tòa án nếu có vi phạm, chi phí thường cao hơn so với Tòa án. Vậy nên, đây cũng là tâm lý e ngại của nhà đầu tư khi phát sinh tranh chấp.

 Như vậy, các quy định hiện hành về giải quyết tranh chấp đã được quy định rất đầy đủ bởi các luật chung và luật chuyên ngành, nhà đầu tư cần xác định giá trị tranh chấp, lựa chọn phương thức giải quyết phù hợp, để bảo đảm quyền lợi của mình.

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy rằng việc giải quyết các tranh chấp về chứng khoán thường gặp phải một số khó khăn và vướng mắc nhất định, trong đó nổi cộm nhất là vấn đề xác định thiệt hại để dựa trên cơ sở xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Theo đó, các cơ sở pháp lý để xác định bồi thường thiệt hại được quy định tại Luật Thương mại 2005, Bộ luật Dân sự 2015. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại là bồi thường toàn bộ thiệt hại, các khoản thiệt hại gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản trực tiếp mà bên bị thiệt hại đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Đối với hoạt động mua bán hàng hóa thông thường thì xác định thiệt hại có thể dựa trên giá trị hàng hóa giao nhận, thời điểm giao kết, thời điểm thực hiện nghĩa vụ. Nhưng trong giao dịch chứng khoán, việc định lượng các yếu tố đó là vô cùng khó khăn, bởi giá trị giao dịch của chứng khoán thay đổi thường xuyên, liên tục. Vậy nên, khi xảy ra tranh chấp như việc Công ty chứng khoán thực hiện các việc nhập lệnh sai, dẫn đến thiệt hại thì nhà đầu tư cần xác định giá trị mua vào, giá trị chênh lệnh tại thời điểm đó để xác định thiệt hại; cần lưu lại các bằng chứng thể hiện các giao dịch để làm cơ sở để giải quyết tranh chấp sau này.

Luật sư Mai Quốc Việt – Công ty Luật FDVN