Bộ Công an trả lời thắc mắc việc người dân đeo vàng không có hóa đơn, chứng từ liệu có bị tịch thu?

Đông Bắc 15:21 | 24/02/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Bộ Công an vừa trả lời thắc mắc của người dân về thông tin từ tháng 02/2026 người dân đeo vàng phải có hóa đơn, chứng từ, nếu không sẽ bị tịch thu.

 

Một công dân vừa gửi câu hỏi đến Bộ Công an nêu thắc mắc về việc gần đây, dư luận xã hội rộ lên tin từ tháng 2/2026 người dân đeo vàng phải có hóa đơn, chứng từ, nếu không sẽ bị tịch thu có đúng hay không? Bên cạnh đó, công dân này cũng đặt thêm câu hỏi, việc tịch thu vàng nếu có thì được thực hiện trong trường hợp nào?

 Bộ Công an thông tin về việc người dân đeo vàng phải có hóa đơn, chứng từ, nếu không sẽ bị tịch thu. Ảnh SJC.

Trả lời thắc mắc này của công dân, Bộ Công an cho biết, khoản 8, Khoản 9 Điều 28 của Nghị định 340/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (có hiệu lực từ ngày 09/2/2026) quy định hình thức xử phạt bổ sung "tịch thu số vàng" chỉ áp dụng đổi với các hành vi vi phạm quy định về hoạt động kinh doanh vàng gồm:

(1) Sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng không có giấy phép sản xuất, kinh doanh mua, bán vàng miếng;

(2) Thực hiện xuất khẩu hoặc nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp theo quy định của pháp luật;

(3) Hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cấp có thẩm quyền cấp giấy phép theo quy định của pháp luật.

Như vậy, đối tượng bị xử phạt và tịch thu vàng là các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh doanh vàng, không phải người dân đeo vàng trang sức, cất giữ vàng hợp pháp trong đời sống sinh hoạt. Do vậy, dư luận xã hội rộ lên tin từ tháng 02/2026 người dân đeo vàng phải có hóa đơn, chứng từ, nếu không sẽ bị tịch thu là không đúng.

Đáng lưu ý, quy định này không mới, mà cơ bản kế thừa quy định tại Khoản 8, Khoản 9, Điều 24 Nghị định 88/2719/NĐ-CP (hết hiệu lực từ ngày 09/2/2026), cho thấy chính sách quản lý của Nhà nước là nhất quán.

Tịch thu vàng không phép từ 9/2/2026 hiểu như nào cho đúng?

Nghị định số 340/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng, trong đó có các hành vi liên quan đến sản xuất, kinh doanh, mua bán, xuất khẩu và nhập khẩu vàng miếng, vàng nguyên liệu. Nghị định sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 9/2/2026.

Theo nội dung Nghị định, đối tượng bị xử phạt bao gồm cả tổ chức và cá nhân có hành vi vi phạm trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng. Điều này đồng nghĩa với việc mọi doanh nghiệp, cửa hàng, tiệm vàng hoặc cá nhân tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh, mua - bán vàng miếng mà không có giấy phép hợp pháp do Ngân hàng Nhà nước cấp đều thuộc diện bị xử lý vi phạm hành chính.

Về hình thức xử phạt, Nghị định quy định cảnh cáo hoặc phạt tiền là các biện pháp xử lý chính, áp dụng tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi vi phạm. Đối với các hành vi nghiêm trọng, cơ quan chức năng có thể áp dụng các biện pháp xử phạt bổ sung, bao gồm tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; đình chỉ hoạt động kinh doanh liên quan hoặc đình chỉ hoạt động nhập khẩu vàng nguyên liệu trong thời hạn nhất định.

Đáng chú ý, Nghị định xếp các hành vi như sản xuất, kinh doanh, mua - bán vàng miếng không có giấy phép; xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu hoặc vàng miếng không phép; hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng khi chưa được cấp phép vào nhóm vi phạm nghiêm trọng. Với nhóm hành vi này, mức phạt tiền từ 300 đến 400 triệu đồng, kèm theo biện pháp tịch thu toàn bộ số vàng vi phạm và có thể đình chỉ hoạt động kinh doanh theo quy định.

  Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch công ty luật SBLAW. Ảnh SBLaw. 

Còn về thông tin “kể từ ngày 9/2/2026, công an có quyền tịch thu vàng miếng không có hóa đơn” hoặc “ai đeo vàng cũng phải mang theo hóa đơn chứng minh nguồn gốc”, Luật sư Nguyễn Thanh Hà, Chủ tịch công ty luật SBLAW phân tích tại Điều 28 của Nghị định 340/2025, có nêu rõ hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu vàng chỉ được áp dụng đối với các hành vi mang tính chất kinh doanh, bao gồm sản xuất, kinh doanh, mua bán vàng miếng không có giấy phép; xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu, vàng miếng không có giấy phép; hoặc thực hiện các hoạt động kinh doanh vàng khác khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép.

"Đối tượng trọng tâm mà quy định này điều chỉnh là các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động kinh doanh vàng trái phép, chứ không nhằm vào việc người dân cất giữ, đeo, sử dụng vàng hợp pháp trong sinh hoạt hoặc các giao dịch dân sự thông thường không mang tính kinh doanh.

Đối với các giao dịch trao đổi, mua bán nhỏ lẻ giữa người dân với nhau, nếu không nhằm mục đích kinh doanh thường xuyên, không tổ chức hoạt động mua bán như một hoạt động thương mại và không vi phạm các quy định khác của pháp luật, thì về nguyên tắc không bị xem là hoạt động kinh doanh vàng trái phép để áp dụng biện pháp tịch thu" – luật sư Nguyễn Thanh Hà nêu rõ.

Tuy nhiên, trong trường hợp cá nhân thực hiện việc mua, bán vàng miếng với tổ chức không có giấy phép kinh doanh vàng miếng hoặc tham gia các giao dịch có dấu hiệu tổ chức, thường xuyên, mang tính chất kinh doanh thì có thể bị xử phạt hành chính và áp dụng biện pháp bổ sung theo quy định.

Do đó, luật sư Nguyễn Thanh Hà khuyến cáo, để tránh rủi ro bị xử phạt hoặc bị áp dụng biện pháp tịch thu, người dân khi mua bán vàng miếng với số lượng nhỏ như 1-2 lượng nên thực hiện giao dịch tại các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp phép kinh doanh vàng miếng, giữ đầy đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp và tránh tham gia các giao dịch mua bán không rõ nguồn gốc hoặc mang tính "trao tay" ngoài hệ thống được cấp phép.