Bức tranh ngân hàng quý II/2026: Tỷ lệ cho vay trung dài hạn tăng, tín hiệu NIM phục hồi
Theo báo cáo cập nhật ngành ngân hàng của SSI Research công bố ngày 6/8, các ngân hàng trong phạm vi theo dõi ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế quý II/2026 đạt 95.700 tỷ đồng, tăng 27,6% so với cùng kỳ năm trước và 20,3% so với quý I. Lũy kế 6 tháng đầu năm, nhóm ngân hàng này đã hoàn thành khoảng 49,4% dự báo lợi nhuận trước thuế cả năm của đơn vị phân tích.
Đà tăng trưởng có sự phân hóa giữa các nhà băng. Trong nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước, Vietcombank (VCB) ghi nhận lợi nhuận tăng 58% so với cùng kỳ và 48% so với quý trước, trong khi VietinBank (CTG) và BIDV (BID) lần lượt tăng 22% và 20% so với cùng kỳ.
Ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, VPBank (VPB) tăng lợi nhuận 76% so với cùng kỳ, HDBank (HDB) tăng 51% và MB (MBB) tăng 41%. Ngược chiều, Sacombank (STB) là trường hợp kém tích cực hơn khi lợi nhuận giảm 44% so với cùng kỳ.
Tín dụng tăng 9,1% từ đầu năm
Đến cuối quý II, tổng dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng được theo dõi tăng 5,3% so với quý trước, đưa mức tăng từ đầu năm lên 9,1%.
Tốc độ mở rộng tín dụng tập trung nhiều hơn ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần. VPBank, HDBank và Techcombank (TCB) ghi nhận tín dụng tăng khoảng 11-12% so với quý trước, trong khi MB tăng 9,6%.
Ngược lại, tốc độ tăng tại nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước thấp hơn. Dư nợ tại VietinBank và BIDV tăng khoảng 3% so với quý trước, còn Vietcombank gần như đi ngang với mức tăng 0,2%. Theo SSI Research, một phần hạn mức tín dụng của các ngân hàng này được dành cho các dự án hạ tầng quốc gia quy mô lớn dự kiến được đẩy mạnh trong nửa cuối năm.
Cơ cấu tín dụng cũng có sự dịch chuyển đáng chú ý. Sau giai đoạn đa dạng hóa danh mục trong quý I, nhiều ngân hàng quay lại những phân khúc cho vay vốn là thế mạnh.
Nhóm MB, VPBank, HDBank, Techcombank, TPBank và VIB đẩy mạnh giải ngân cho các chủ đầu tư bất động sản, với dư nợ lĩnh vực này tăng khoảng 22% so với quý trước. Tín dụng dành cho thương mại, bán buôn, bán lẻ và sửa chữa ô tô, xe máy tăng khoảng 6%, trong khi tín dụng đối với dịch vụ tài chính, chủ yếu là các công ty chứng khoán, tăng 20%.
Riêng lĩnh vực dịch vụ tài chính ghi nhận ít nhất 42.600 tỷ đồng tín dụng mới được giải ngân trong quý II, tăng 20% so với quý trước và 27% so với đầu năm.
Nguồn: Các ngân hàng, SSI Research
Trong khi đó, cho vay mua nhà có dấu hiệu chững lại. Dư nợ mua nhà tại VPBank chỉ tăng 2,4% so với quý trước, HDBank gần như đi ngang, còn Techcombank giảm 1,4%. Báo cáo cho rằng diễn biến này xuất hiện trong bối cảnh lãi suất vay mua nhà tăng, trong khi nguồn cung nhà ở giá thấp vẫn hạn chế.
Ngân hàng tăng cho vay trung và dài hạn
Một xu hướng khác trong quý II là các ngân hàng gia tăng tỷ trọng tín dụng trung và dài hạn.
Trong 13 ngân hàng thuộc phạm vi theo dõi của SSI Research, dư nợ trung và dài hạn tăng 6% so với quý trước, cao hơn mức tăng 3,8% của dư nợ ngắn hạn. BIDV duy trì cơ cấu kỳ hạn tương đối cân bằng, trong khi VietinBank và MSB tiếp tục ưu tiên cho vay ngắn hạn.
Ở chiều huy động, tổng tiền gửi tăng 5,3% so với quý trước, cải thiện đáng kể so với mức tăng 1,5% trong quý I và tương đương tốc độ tăng tín dụng.
Dù vậy, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tiền gửi (LDR) của nhóm ngân hàng vẫn ở mức cao 102,4%. Một số nhà băng tiếp tục bổ sung nguồn vốn trung và dài hạn thông qua phát hành chứng chỉ tiền gửi và vay quốc tế. Trong đó, VPBank huy động 1,44 tỷ USD, HDBank 720 triệu USD và ACB 500 triệu USD.
NIM phục hồi lên 3,22%
Biên lãi ròng (NIM) của ngành cải thiện trong quý II, đạt 3,22%, tăng 18 điểm cơ bản so với quý trước và 4 điểm cơ bản so với cùng kỳ.
Trong đó, NIM của nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước tăng 16 điểm cơ bản so với quý trước, còn nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tăng 19 điểm cơ bản. MSB và VPBank đi ngược xu hướng khi NIM lần lượt giảm 29 và 13 điểm cơ bản.
Sự phục hồi chủ yếu đến từ việc lãi suất cho vay được điều chỉnh nhanh hơn chi phí vốn và cơ cấu tín dụng dịch chuyển sang các khoản vay kỳ hạn dài.
Lợi suất tài sản trong quý II tăng 74 điểm cơ bản so với quý trước, cao hơn mức tăng 59 điểm cơ bản của chi phí vốn. Việc tái định giá các khoản vay mua nhà hiện hữu cũng đóng góp vào xu hướng này.
Dù vậy, chi phí vốn vẫn là yếu tố cần theo dõi khi mặt bằng lãi suất huy động đã tăng và có thể phản ánh đầy đủ hơn vào chi phí đầu vào của ngân hàng trong các quý tiếp theo.
Nguồn: Các ngân hàng, SSI Research
Thu nhập phí tăng hơn 54%
Bên cạnh tín dụng và NIM, nguồn thu ngoài lãi cũng đóng góp đáng kể vào kết quả kinh doanh quý II.
Thu nhập từ phí của các ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu đạt khoảng 22.500 tỷ đồng, tăng 54,3% so với cùng kỳ và 27,9% so với quý trước. Tổng thu nhập ngoài lãi tăng 17,7% so với cùng kỳ và 33,2% so với quý I.
Tăng trưởng nguồn thu phí tập trung tại một số ngân hàng. Sacombank ghi nhận thu nhập phí tăng hơn 4 lần so với quý trước và 248% so với cùng kỳ. VIB tăng 168%, VPBank tăng 160%, Techcombank tăng 74%, VietinBank tăng 58% và ACB tăng 41%.
Nguồn thu được hỗ trợ bởi các hoạt động như thư tín dụng, bảo lãnh phát hành và phân phối trái phiếu, bancassurance, thẻ và các dịch vụ quản lý dòng tiền.
Ngược lại, thu nhập từ kinh doanh ngoại hối giảm 21,7% so với quý trước và 46,6% so với cùng kỳ trong bối cảnh tỷ giá tương đối ổn định trong nửa đầu năm. Vietcombank là trường hợp ngoại lệ khi nguồn thu này tăng 32% so với cùng kỳ.
VIB và VPBank lần lượt ghi nhận lỗ kinh doanh ngoại hối 423 tỷ đồng và 847 tỷ đồng, chủ yếu liên quan đến các giao dịch phòng ngừa rủi ro cho các khoản vay nước ngoài.
Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tiếp tục cải thiện khi tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) toàn ngành giảm xuống 28,2%, từ 29,4% trong quý I và 32,6% cuối năm 2025.
Chi phí hoạt động tăng 10,2% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể mức tăng 21,2% của tổng thu nhập hoạt động, qua đó giúp tỷ lệ CIR giảm.
Nhìn chung, kết quả quý II cho thấy hoạt động kinh doanh ngân hàng tiếp tục được hỗ trợ bởi tăng trưởng tín dụng, NIM phục hồi và nguồn thu ngoài lãi cải thiện. Tuy nhiên, diễn biến của nợ xấu, nợ nhóm 2 và tỷ lệ bao phủ nợ xấu cho thấy chất lượng tài sản đang trở thành một trong những yếu tố cần theo dõi trong nửa cuối năm.
Bên cạnh đó, nhu cầu vốn trung và dài hạn có thể tiếp tục ở mức cao khi tín dụng tăng nhanh, các dự án hạ tầng quy mô lớn bước vào giai đoạn triển khai mới và khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng với huy động vốn vẫn là yếu tố tác động đến thanh khoản hệ thống.
Nợ xấu lên 1,97%, bộ đệm dự phòng thu hẹp
Tổng nợ xấu của nhóm ngân hàng được theo dõi tăng 21,4% so với đầu năm và 9,5% so với quý trước. Tỷ lệ nợ xấu theo đó tăng từ 1,88% cuối quý I lên 1,97% vào cuối quý II. Theo SSI Research, đây là mức tỷ lệ nợ xấu quý II cao nhất kể từ năm 2020.
Nợ xấu tăng tương đối mạnh tại VietinBank, Sacombank, HDBank và BIDV. Trong đó, so với quý trước, nợ xấu của VietinBank tăng 21,8%, HDBank tăng 17,6%, Sacombank tăng 15,6% và BIDV tăng 7,2%.
Nợ nhóm 2 cũng tăng 31,6% so với đầu năm và 17,5% so với quý trước. Sacombank ghi nhận quy mô nợ nhóm 2 gấp 2,8 lần quý trước, HDBank gấp 2 lần, trong khi VPBank tăng 13,7%.
Song song với đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm xuống khoảng 83%, từ mức 86% vào cuối quý I và 95% cùng kỳ năm trước.
Diễn biến chi phí dự phòng cũng có sự khác biệt giữa hai nhóm ngân hàng. Các ngân hàng thương mại Nhà nước giảm trích lập dự phòng 26% so với quý trước, trong khi nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tăng 33%.
Một số ngân hàng tăng mạnh chi phí dự phòng gồm Sacombank với mức tăng 152% so với quý trước, HDBank tăng 104%, OCB tăng 85% và ACB tăng 55%.