Chuyên gia gợi ý lộ trình 3 - 5 năm đưa tỷ trọng tín dụng BĐS về mức an toàn hơn
Đằng sau mức tăng trưởng tín dụng cao nhất trong nhiều năm
Số liệu mới nhất từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy tính đến ngày 25/12/2025, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 18,41 triệu tỷ đồng, tương ứng tăng 17,87% so với cuối năm 2024 và vượt mục tiêu 16% đề ra hồi đầu năm.
Ảnh: T.D tổng hợp
Nhận định về tăng trưởng tín dụng cao nhất trong nhiều năm gần đây, Chứng khoán SHS lưu ý về chất lượng của mức tăng trưởng mạnh mẽ này.
Để hỗ trợ doanh nghiệp trong giai đoạn khó khăn, ngành ngân hàng đã triển khai chủ trương cơ cấu lại nợ và giữ nguyên nhóm nợ theo Thông tư 02/2023, sau đó tiếp tục gia hạn bằng Thông tư 06/2023. SHS nhận định cách làm này giống như mua thêm thời gian, giúp doanh nghiệp có cơ hội hồi phục và ngân hàng tránh phải đẩy nợ ra ngoại bảng ngay lập tức.
Đổi lại, sự lệch pha kỳ hạn trên bảng cân đối của toàn hệ thống ngày càng rõ. Cụ thể, ở phía tài sản, nhiều khoản vay bị kéo dài thời hạn, trong khi phía nguồn vốn lại có xu hướng ngắn lại. "Sự chênh lệch ấy tích tụ dần, âm thầm bào mòn NIM của hệ thống", báo cáo nhận định.
Một hệ quả khác của việc cơ cấu nợ kéo dài và chênh lệch kỳ hạn là rủi ro thanh khoản gia tăng. Khi nhiều khoản cho vay có kỳ hạn dài hơn, ngân hàng buộc phải tăng huy động vốn trung và dài hạn để đảm bảo các tỷ lệ an toàn. Thực tế từ cuối năm 2024 sang 2025, các chuyên gia chỉ ra rằng cuộc đua huy động kỳ hạn 12 đến 36 tháng đã nóng lên, với việc lãi suất tiền gửi được nâng thêm khoảng 0,5 đến 1% ở nhiều kỳ hạn.
"Hệ thống ngân hàng chỉ thực sự bền vững khi tự thân nó an toàn, chứ không thể mãi dựa vào việc kéo dài kỳ hạn hay đặt cược vào tăng trưởng để che lấp rủi ro", báo cáo gần đây của Chứng khoán SHS nhận định.
Trong nỗ lực gỡ vướng mắc xử lý nợ xấu ngân hàng cũng như tăng cường chất lượng tín dụng, tháng 6/2025, Quốc hội chính thức thông qua Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi với một số nội dung Luật hóa Nghị quyết 42/2017. Luật mới trao cho các tổ chức tín dụng công cụ mạnh hơn trong việc thu giữ tài sản bảo đảm và xử lý nợ xấu. Những điểm hiệu quả nhất của Nghị quyết 42 như quyền thu giữ tài sản bảo đảm hay bán nợ xấu theo giá thị trường đều được kế thừa, qua đó tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình thu hồi nợ.
Tuy vậy, theo nhóm phân tích SHS, việc xử lý nợ xấu tại Việt Nam vẫn vướng nhiều nút thắt quen thuộc, từ thủ tục tòa án kéo dài, thiếu nhân lực thi hành án ở địa phương, đến việc định giá tài sản bảo đảm chưa sát thị trường, quy trình đấu giá rườm rà và tâm lý dè dặt của bên mua nợ.
"Vì thế, việc luật hóa Nghị quyết 42 cần đi kèm một cơ chế giám sát độc lập đối với quá trình xử lý tài sản, nhằm đảm bảo tính minh bạch trong định giá và cân bằng quyền lợi giữa bên cho vay và bên đi vay. Nếu không, tranh chấp và kiện tụng rất dễ trở thành lực cản đối với mục tiêu làm sạch bảng cân đối của ngân hàng", các chuyên gia đề xuất.
Cần một lộ trình đưa tỷ trọng tín dụng BĐS về mức an toàn hơn?
Tại báo cáo, nhóm phân tích cũng nhắc đến một câu hỏi lớn được đặt ra tại nhiều hội thảo lớn diễn ra cuối năm 2025 là liệu năm 2026 ngành ngân hàng có lộ trình cụ thể giảm dần tỷ trọng tín dụng bất động sản trong tổng dư nợ hay không.
Hiện chưa có số liệu cập nhật nhất về tăng trưởng tín dụng lĩnh vực bất động sản cũng như tỷ trọng dư nợ cho vay BĐS trong tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, theo báo cáo nhà ở và thị trường bất động sản quý III/2025 của Bộ Xây dựng, đến hết tháng 8/2025, dư nợ tín dụng bất động sản đã vượt mốc 4 triệu tỷ đồng.
Nhiều ước tính cho thấy trong các tháng của năm 2025, tỷ trọng tín dụng chảy vào lĩnh vực bất động sản tiếp tục tăng mạnh, hiện chiếm khoảng 24% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Các chuyên gia SHS gợi ý một kịch bản tích cực là công bố lộ trình trong 3 đến 5 năm để đưa tỷ trọng tín dụng bất động sản về mức an toàn hơn, chẳng hạn mỗi năm giảm 1 đến 2%, đồng thời khuyến khích dòng vốn chảy sang lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, đặc biệt là khoa học công nghệ.
Việc định hướng tín dụng vào công nghệ cao và đổi mới sáng tạo, sẽ giúp nâng năng suất của nền kinh tế, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn. Tuy nhiên, theo SHS, để dòng vốn này thực sự vận hành, không thể chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng truyền thống. Xa hơn, cần phát triển mạnh hơn các kênh vốn cổ phần, vốn mạo hiểm, quỹ đồng đầu tư và cơ chế bảo lãnh rủi ro, qua đó chia sẻ rủi ro với ngân hàng và cho phép vốn dám đi vào những dự án công nghệ mới, vốn nhiều rủi ro nhưng cũng giàu tiềm năng.
"Muốn đi theo con đường đó, các doanh nghiệp công nghệ nhỏ và vừa phải tiếp cận được vốn cổ phần và sự hỗ trợ của các quỹ đầu tư, thay vì chỉ dựa vào nợ vay, điều mà Việt Nam cần thúc đẩy thông qua các chính sách như ưu đãi thuế cho quỹ khởi nghiệp hay chương trình matching fund", báo cáo nhận định.