Chuyên gia 'hiến kế' để doanh nghiệp Việt biến cơ hội từ dịch chuyển chuỗi cung ứng thành đơn hàng
Chuỗi cung ứng dịch chuyển, dư địa cho hàng Việt mở rộng
Tại Diễn đàn “Chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu và cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam” ngày 18/9, các chuyên gia nhận định những thay đổi trong cấu trúc chuỗi cung ứng đang mở thêm không gian để doanh nghiệp Việt tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và thương mại quốc tế.
Theo bà Đỗ Diệu Hương, Phó Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng từ 336 tỷ USD năm 2021 lên 475 tỷ USD năm 2025.
Nguồn: Cục Thống kê.
Tuy nhiên, khu vực doanh nghiệp trong nước mới chiếm 22,7% kim ngạch xuất khẩu năm 2025, trong khi khu vực FDI chiếm 77,3%. Đáng chú ý, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước có liên kết với chuỗi giá trị toàn cầu giảm từ khoảng 35% năm 2009 xuống 18% năm 2023.
Những con số này cho thấy dư địa để doanh nghiệp Việt nâng mức độ tham gia và tạo giá trị trong chuỗi cung ứng quốc tế vẫn còn lớn.
Cơ hội đang rõ hơn khi các nhà mua hàng quốc tế có xu hướng đa dạng hóa nguồn cung. Xu hướng “China Plus One” (Trung Quốc + 1), theo ông Kevin Geneugelijk, Giám đốc Phát triển kinh doanh, BM Forwarding BV (Hà Lan), không còn chỉ là dự báo mà đang diễn ra trên thực tế, trong đó Việt Nam là một trong những quốc gia hưởng lợi.
Đối với nông sản, lợi thế về vị trí địa lý, thời gian vận chuyển, sự đa dạng sản phẩm và hệ thống các hiệp định thương mại tự do (FTA) tạo thêm điều kiện để hàng Việt tiếp cận các thị trường mới.
Tại Trung Đông, chuối Việt Nam đang nhận được sự quan tâm từ các nhà nhập khẩu. Ông Mirash Basheer, Giám đốc điều hành Tập đoàn Lulu Group International tại Việt Nam, cho biết thời gian vận chuyển chuối từ Việt Nam tới Trung Đông khoảng 20-25 ngày, trong khi hàng từ Ecuador hoặc Philippines có thể mất hơn 40 ngày.
Nông sản Việt được nhiều quốc gia ưa chuộng. Ảnh: Báo Thanh niên.
Theo ông Basheer, thời gian vận chuyển ngắn giúp duy trì chất lượng, giảm hao hụt và nâng sức cạnh tranh. Lulu đang nhận được ngày càng nhiều đơn đặt hàng đối với chuối Việt Nam. Ngoài chuối, gạo, trái cây, nông sản chế biến và thực phẩm Việt Nam cũng có tiềm năng tại thị trường Trung Đông.
Không chỉ những mặt hàng đã có vị thế như gạo, cà phê, điều hay thủy sản, nhóm rau quả và thực phẩm chế biến cũng có dư địa mở rộng khi nhu cầu tại các thị trường ngày càng đa dạng.
Dù vậy, lợi thế về sản phẩm và nguồn nguyên liệu mới chỉ là điều kiện cần. Theo bà Đỗ Diệu Hương, doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng hiện phải đáp ứng đồng thời các yêu cầu về chất lượng, giá thành, quy mô, khả năng giao hàng, nguồn gốc nguyên liệu, dữ liệu, truy xuất, phát thải carbon, năng lượng, môi trường, lao động và quản trị rủi ro.
Doanh nghiệp cần xác định rõ “khoảng cách tiêu chuẩn” giữa năng lực hiện tại với yêu cầu của từng thị trường, chuỗi cung ứng hoặc doanh nghiệp dẫn dắt, từ đó tập trung nguồn lực vào những tiêu chí còn thiếu.
Nhà mua hàng quan tâm chưa đồng nghĩa có đơn hàng
Trao đổi với phóng viên bên lề sự kiện, ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO, Việt Nam có lợi thế về vị trí địa lý, hệ thống cảng biển và khả năng kết nối với các tuyến hàng hải quốc tế. Cùng với đó, mạng lưới FTA như CPTPP, EVFTA, UKVFTA và RCEP tạo điều kiện để hàng hóa Việt Nam tiếp cận các thị trường lớn.
Tuy nhiên, ông nhấn mạnh cần phân biệt giữa sự quan tâm của nhà mua hàng và đơn hàng thực tế.
“Sự dịch chuyển chuỗi cung ứng đang tạo ra lượng quan tâm rất lớn từ các nhà mua hàng quốc tế đối với Việt Nam. Song, chúng ta cần phân biệt rõ giữa cơ hội và đơn hàng”
Ông Nguyễn Tuấn Việt, Tổng giám đốc Công ty TNHH Xúc tiến Xuất khẩu VIETGO
Theo đó, việc một quốc gia được nhà mua hàng quan tâm hay một khách hàng gửi yêu cầu mua hàng mới chỉ là bước đầu. Để cơ hội trở thành đơn hàng, doanh nghiệp phải có khả năng báo giá, đàm phán, tổ chức sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn, thực hiện thanh toán và giao hàng đúng yêu cầu.
Đây cũng là khoảng trống được nhìn thấy rõ ở lĩnh vực nông nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư nhà máy, máy móc và vùng nguyên liệu nhưng còn thiếu nhân lực có khả năng tìm kiếm nhà mua hàng, đàm phán, tổ chức nguồn hàng và phát triển thị trường quốc tế.
Muốn vào sâu chuỗi cung ứng, phải nâng năng lực doanh nghiệp
Theo ThS. Nguyễn Anh Dương, Việt Nam tiếp tục thu hút FDI lớn từ Singapore, Trung Quốc, Hàn Quốc và các đối tác Đông Á. FDI tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng, xuất khẩu và hình thành các hệ sinh thái sản xuất, logistics. Tuy nhiên, chính sách thuế nhập khẩu của Mỹ từ năm 2025 đặt thêm yêu cầu về tăng giá trị gia tăng và tỷ lệ nội địa hóa.
Ông Dương đề xuất thu hút FDI gắn với công nghệ cao, phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng năng lực logistics và hạ tầng số, quản lý rủi ro xuất xứ, đồng thời xây dựng sản xuất xanh, có khả năng chống chịu.
Từ góc độ thuế, bà Lê Thị Duyên Hải cho rằng cần chuyển trọng tâm từ ưu đãi thuế sang nâng năng lực doanh nghiệp, thông qua hỗ trợ R&D, khấu hao nhanh thiết bị tự động hóa, robot, AI, năng lượng sạch và khuyến khích nội địa hóa.
Bộ Tài chính dự kiến từ tháng 12 triển khai hoàn thuế tự động, đồng thời có thể nghiên cứu cơ chế “không thu - không hoàn” với doanh nghiệp xuất khẩu tuân thủ tốt.
Theo đó, để biến cơ hội từ dịch chuyển chuỗi cung ứng thành đơn hàng, doanh nghiệp Việt cần nâng năng lực sản xuất, công nghệ, nội địa hóa và đáp ứng yêu cầu về sản phẩm, tiêu chuẩn, dữ liệu và giao hàng.