Giải 'khát' vốn cho SME: Ba phía cùng bắt tay
Khoảng cách lớn giữa nhu cầu vốn và khả năng tiếp cận
Theo thống kê của Vụ Tín dụng, Ngân hàng Nhà nước (NHNN); trong giai đoạn 2021-2025, doanh số cho vay nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) đạt trên 21,7 triệu tỷ đồng, tương ứng trung bình trên 4,3 triệu tỷ đồng/năm.
Tính riêng 8 tháng đầu năm 2026, doanh số giải ngân đạt trên 3,8 triệu tỷ đồng. Dư nợ tín dụng đạt trên 4,1 triệu tỷ đồng, tăng 12,37% so với tháng 12/2025 và chiếm khoảng 20% dư nợ toàn nền kinh tế.
Dưới sự chỉ đạo của NHNN, chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và SME với ưu đãi lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng cho vay; triển khai từ tháng 8/2026 cũng mang đến một số kết quả tích cực. Trong hơn 1 tháng triển khai đến nay, tổng cộng đã có 19 NHTM đăng ký tham gia, với quy mô khoảng 407.000 tỷ đồng.
Ngoài ra, một số ngân hàng đã xây dựng các gói tín dụng hay chương trình tín dụng ưu đãi dành riêng cho SMEs, có thể kể đến như BIDV với Chiến dịch thúc đẩy kinh doanh khách hàng “SME Fast Track 2026” quy mô 25.000 tỷ đồng; Vietcombank cũng phát triển gần 2.000 khách hàng doanh nghiệp SME mới với doanh số giải ngân 8 tháng đạt gần 10.000 tỷ đồng; VietinBank triển khai ưu đãi cho cả dịch vụ mở tài khoản EKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại cho các khách hàng là doanh nghiệp SME; SHB với các gói vay ưu đãi khởi nghiệp và kinh doanh với lãi suất từ 6,2%/năm, hạn mức 10 tỷ đồng dành cho SME...
Bên cạnh những kết quả đáng ghi nhận nói trên, tại Hội nghị “Đẩy mạnh triển khai các giải pháp tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa” diễn ra sáng 18/9, đại diện Vụ Tín dụng, NHNN cũng thẳng thắn nhìn nhận rằng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp SME vẫn còn những khó khăn, vướng mắc cần tiếp tục được tháo gỡ.
Toàn cảnh Hội nghị “Đẩy mạnh triển khai các giải pháp tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Ảnh: T.D
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Đỗ Văn Vẻ, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp tỉnh Hưng Yên cho biết thực tiễn doanh nghiệp SME rất cần vốn, mong muốn tiếp cận nguồn vốn đúng thời điểm với chi phí hợp lý để biến cơ hội kinh doanh thành năng lực sản xuất. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng cách lớn giữa nhu cầu vốn và khả năng tiếp cận vốn của khu vực SME.
Khoảng cách xuất phát từ nhiều yếu tố như năng lực tài chính, tài sản bảo đảm, năng lực quản trị, sự minh bạch tài chính, khả năng chứng minh dòng tiền, hiệu quả phương án sản xuất kinh doanh...
Báo cáo của Hội Doanh nhân tư nhân Việt Nam gửi NHNN mới đây dẫn số liệu từ FiinGroup cho biết khu vực SME hiện chiếm khoảng 94% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam nhưng chỉ đóng góp trực tiếp dưới 20% doanh thu và khoảng 8% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu. Một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến thực trạng này là hạn chế về khả năng tiếp cận vốn.
Theo báo cáo, mặc dù Chính phủ và NHNN quyết liệt thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ doanh nghiệp SME tiếp cận được vốn vay ngân hàng chỉ ở mức 8,8%, xuất phát từ nhiều điểm nghẽn như mâu thuẫn nội tại từ phía các ngân hàng thương mại (giữa hiệu quả kinh doanh và nhu cầu hỗ trợ doanh nghiệp SME); tình trạng "bất đối xứng thông tin" giữa bên vay và bên cho vay; hạn chế về năng lực quản trị, tính minh bạch của bản thân doanh nghiệp SME...
Ba phía cùng bắt tay
Đại diện Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam, ông Đào Minh Tú nhìn nhận rằng câu chuyện khả năng tiếp cận tín dụng cần phải được nhìn nhận từ cả ba phía: cơ chế chính sách, tổ chức tín dụng và bản thân doanh nghiệp.
Về cơ chế chính sách, ông Đào Minh Tú đánh giá cơ chế hỗ trợ cho doanh nghiệp SME đã rất đầy đủ. Đã có Luật hỗ trợ DNNVV năm 2017; Nhà nước, Chính phủ và các bộ ngành (bao gồm Bộ Tài chính và NHNN) cũng ban hành thường xuyên các chính sách hỗ trợ cho DNNVV, từ hỗ trợ về nguồn lực vốn cho đến thị trường, công nghệ, nguồn nhân lực...
Về phía các tổ chức tín dụng, ông Tú cho rằng câu chuyện cho vay SME đang trở thành một trục quan trọng của các ngân hàng thương mại, với tín dụng bán lẻ tăng trưởng tích cực trong những năm gần đây. Nhiều ngân hàng coi cho vay bán lẻ là trung tâm, là thế mạnh; các khoản vay bán lẻ được xử lý nhanh hơn rất nhiều so với cho vay hạ tầng, kỹ thuật quy mô lớn. Các gói tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp SME cũng thu hút nhiều ngân hàng tham gia triển khai.
"Đối với vấn đề cho vay theo dòng tiền như nhiều Hiệp hội đề cập, tôi tin chắc rằng không có ngân hàng nào đến bây giờ vẫn cứ bám giữ phương thức cho vay bằng tài sản đảm bảo, bởi vì như vậy sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh. Ngân hàng hiện cũng đang cạnh tranh gay gắt bằng chính những dịch vụ tín dụng và điều kiện cấp tín dụng... Như vậy thì tỷ trọng cho vay theo dòng tiền đang tăng rất nhanh và tỷ trọng cho vay theo tài sản đảm bảo sẽ giảm đi", ông Đào Minh Tú phân tích.
Khi cơ chế chính sách đã đầy đủ và TCTD cũng tích cực 'xoay trục', đại diện Hiệp hội Ngân hàng cho biết vấn đề giờ đây là làm thế nào để chuyển hóa thành hỗ trợ thực chất cho doanh nghiệp.
TS. Đào Minh Tú, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: BTC
Theo đó, ông Đào Minh Tú nêu ra 5 kiến nghị để tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp SME.
Thứ nhất, đề xuất rà soát lại nội hàm của Luật hỗ trợ DNNVV, sửa đổi để sát thực tiễn hơn nữa. "Ví dụ, về hai điều khoản liên quan đến quỹ hỗ trợ doanh nghiệp SME và cái quỹ bảo lãnh doanh nghiệp SME; tôi cho rằng phải xem lại hoặc có khi bỏ đi vì thực hiện các thủ tục bảo lãnh đó còn nhiều hơn mấy lần thủ tục vay ngân hàng thì làm sao triển khai được...", đại diện Hiệp hội Ngân hàng cho hay.
Thứ hai, cũng cần xem xét đánh giá tính khả thi của các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp SME. "Ví dụ gói hỗ trợ lãi suất 40.000 tỷ đồng từ ngân sách thông qua các ngân hàng thương mại triển khai năm 2023, nhìn từ bên ngoài thì rất đúng nhưng quá trình triển khai thực hiện thì khó đi vào cuộc sống. Thay vào đó, nếu hỗ trợ trực tiếp cho doanh nghiệp thông qua chính sách giảm thuế, giảm phí hay hỗ trợ liên quan đến đất đai thủ tục... thì thiết thực hơn", ông Tú phân tích.
Thứ ba, đại diện Hiệp hội Ngân hàng đề xuất xây dựng một trung tâm dữ liệu về hệ thống doanh nghiệp SME để chuẩn hóa dữ liệu doanh nghiệp. Nếu làm được điều này, ông Tú cho rằng việc xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp, đánh giá cho vay sẽ dễ dàng hơn, câu chuyện xét duyệt cho vay bằng dòng tiền thay vì tài sản đảm bảo cũng sẽ thuận lợi hơn.
Về phía TCTD, ông Đào Minh Tú kỳ vọng các ngân hàng thương mại mạnh dạn hơn trong quyết định cho vay, tránh làm lỡ cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp. Cùng đó, có sự đồng thuận chia sẻ khó khăn, về mặt lợi nhuận cũng như thông qua các hỗ trợ lãi suất, chi phí với doanh nghiệp.
Về phía doanh nghiệp, đại diện Hiệp hội Ngân hàng nhấn mạnh yêu cầu tiên quyết để tăng khả năng tiếp cận vốn là tự cơ cấu lại, tăng cường năng lực tài chính, năng lực quản trị, tuân thủ các chế độ kế toán, tăng cường minh bạch dữ liệu...
"Rất nhiều báo cáo đều đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp SME rất thấp. Có những doanh nghiệp SME thậm chí gần như 'tay không bắt giặc', vốn không có, trụ sở đi thuê... thì rất khó tiếp cận tín dụng, nhất là trong điều kiện lãi suất như hiện nay", ông Tú nói thêm.
Đồng quan điểm với đại diện Hiệp hội Ngân hàng, đại diện Hội Doanh nghiệp trẻ Việt Nam - bà Nguyễn Thị Lan Hương cũng cho rằng việc tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp SME sẽ đến từ cả ba yếu tố cơ chế chính sách, tổ chức tín dụng và bản thân doanh nghiệp.
"Doanh nghiệp không cần vốn rẻ bằng mọi giá mà cần vốn đúng thời điểm, đúng kỳ hạn và phù hợp với năng lực tạo dòng tiền.
Nếu cơ quan quản lý hoàn thiện cơ chế, ngân hàng đổi mới phương thức đánh giá rủi ro, doanh nghiệp minh bạch dữ liệu... thì dòng vốn đó sẽ đi vào nhà máy, công nghệ, đơn hàng và việc làm cụ thể. Đó là cách để tín dụng thực sự trở thành động lực cho doanh nghiệp SME bứt phá, đóng góp mạnh mẽ hơn cho tăng trưởng kinh tế", bà Lan Hương nhấn mạnh.