Quy định pháp luật về trách nhiệm chi trả bồi thường của công ty bảo hiểm

15:25 16/09/2021 Theo dõi Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên Google news
Chia sẻ

Thưa luật sư, ngày 7/5/2021 tôi có điều khiển xe ô tô tải gây tai nạn với một chiếc xe đầu kéo làm hư hỏng, thiệt hại tài sản của bên xe đầu kéo là 200.000.000 đồng, không có thiệt hại về sức khỏe và tính mạng. Sau đó bên bảo hiểm có xuống thẩm định để bồi thường. Bảo hiểm tôi tự bỏ tiền ra đóng nay người khác được hưởng thì theo Luật định quy định như thế nào?

Trả lời:

Công ty Luật FDVN (FDVN) cảm ơn bạn đã tin tưởng và sử dụng dịch vụ tư vấn của FDVN. Đối với câu hỏi của Quý khách, chúng tôi có một số trao đổi như sau:

[1]. Phạm vi bồi thường thiệt hại của bảo hiểm bắt buộc ô tô

Tại Điều 5 Nghị định 03/2021/NĐ-CP đã nêu rõ phạm vi bồi thường thiệt hại của bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới như sau:

“1. Thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng và tài sản đối với bên thứ ba do xe cơ giới gây ra.

2. Thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của hành khách do xe cơ giới gây ra”.

Theo đó, bảo hiểm bắt buộc xe ô tô chỉ bồi thường đối với những thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và tài sản của bên thứ ba và hành khách do ô tô gây ra trong mỗi vụ tai nạn xảy ra.

Tuy nhiên, căn cứ Điều 13 Nghị định 03/2021/NĐ-CP, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không bồi thường đối với những thiệt hại thuộc một trong các trường hợp sau:

– Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, người lái xe hoặc người bị thiệt hại.

– Người lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới.

– Người lái xe không đủ điều kiện về độ tuổi điều khiển xe; không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không hợp lệ…

– Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp bao gồm: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại.

– Thiệt hại đối với tài sản do điều khiển xe mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn, sử dụng ma túy và chất kích thích bị cấm.

– Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn.

– Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.

– Chiến tranh, khủng bố, động đất.

[2]. Về mức bồi thường thiệt hại

Theo khoản 1 Điều 14 Nghị định 03/2021/NĐ-CP trường hợp ô tô gây tai nạn, trong phạm vi mức trách nhiệm bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho chủ xe cơ giới hoặc người lái xe có trách nhiệm dân sự được bảo hiểm số tiền mà người này đã bồi thường hoặc sẽ bồi thường cho người bị thiệt hại. Mức bồi thường thiệt hại về tài sản cụ thể tại khoản 3 Điều này như sau: “Mức bồi thường cụ thể về thiệt hại đối với tài sản/1 vụ tai nạn được xác định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm nhưng không vượt quá mức trách nhiệm bảo hiểm”.

Ngoài ra, mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản được hướng dẫn cụ thể tại khoản 2 Điều 4 Thông tư 04/2021/TT-BTC quy định như sau:

“2. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản:

a) Do xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe có kết cấu tương tự theo quy định của Luật Giao thông đường bộ gây ra là năm mươi (50) triệu đồng trong một vụ tai nạn.

b) Do xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe máy chuyên dùng theo quy định của Luật Giao thông đường bộ gây ra là một trăm (100) triệu đồng trong một vụ tai nạn.”

Như vậy, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ phải bồi thường thiệt hại về tài sản do ô tô gây ra theo thiệt hại thực tế và mức độ lỗi của người được bảo hiểm nhưng không vượt quá 100 triệu đồng/vụ tai nạn.

Luật sư Hồ Thị Thương – Công ty Luật FDVN