Saigonbank báo lãi dương trở lại; tổng tỷ lệ nợ xấu và nợ cần chú ý vượt mức 12%, cao nhất toàn ngành
Theo báo cáo tài chính quý I/2026 đã công bố, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương - Saigonbank (mã: SGB) ghi nhận thu nhập lãi thuần 210 tỷ đồng trong quý đầu năm, giảm nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái khi NIM tiếp đà giảm về 2,21% dưới áp lực chi phí vốn.
Các nguồn thu ngoài lãi cũng giảm so với cùng kỳ, đặc biệt lãi thuần từ hoạt động khác giảm 39%.
Kết quả, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước chi phí dự phòng rủi ro quý này chỉ đạt 113 tỷ đồng, giảm 31% so với cùng kỳ.
Nhờ giảm mạnh chi phí trích lập dự phòng (-63% svck, về 24,7 tỷ đồng), Saigonbank báo lãi trước thuế 88 tỷ đồng trong quý I/2026, giảm 10% so với cùng kỳ 2025 nhưng cải thiện so với mức lỗ gần 114 tỷ đồng của quý IV/2025.
Ảnh: T.D tổng hợp từ BCTC
Việc giảm chi phí trích lập một mặt hỗ trợ lợi nhuận ngắn hạn nhưng mặt khác đã làm mỏng thêm bộ đệm dự phòng rủi ro - vốn đã ở nhóm thấp nhất toàn ngành của Saigonbank - trong bối cảnh tỷ lệ nợ xấu và nợ cần chú ý tăng mạnh trở lại trong quý đầu năm.
Tại cuối quý I/2026, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tại Saigonbank là 3,52%, tăng 0,56 điểm % so với cuối năm ngoái. Tỷ lệ nợ nhóm 2 cũng tăng lên mức 9,14%, cao nhất toàn ngành và vượt xa ngân hàng có tỷ lệ nợ nhóm 2 xếp thứ hai hệ thống là VPBank; hàm ý rủi ro hình thành nợ xấu mới gia tăng trong các quý tiếp theo.
Ảnh: T.D tổng hợp từ BCTC
Như vậy, tổng tỷ lệ nợ xấu và nợ cần chú ý của Saigonbank tại thời điểm 31/3/2026 là khoảng 12,66% tổng dư nợ tín dụng.
Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu của ngân hàng tại cuối quý I/2026 là 29,3%, giảm từ mức 36,4% của quý liền trước. Hiện Saigonbank là một trong ba nhà băng có bộ đệm dự phòng thấp nhất hệ thống, bên cạnh NCB và PGBank.
Ảnh: T.D tổng hợp từ BCTC
Theo báo cáo tài chính, tính đến 31/3/2026, Saigonbank có tổng quy mô dư nợ 22.106 tỷ đồng, tăng khoảng 0,6% so với đầu năm. Ngân hàng không công bố danh mục dư nợ theo đối tượng quý này, tuy nhiên BCTC kiểm toán vài năm gần đây cho thấy tỷ trọng cho vay hộ kinh doanh và cá nhân duy trì ở mức cao, khoảng 73-74% tổng tín dụng.