Bức tranh NIM ngân hàng 2025: Kienlongbank bất ngờ vươn lên top đầu cùng VPBank, HDBank; BAOVIET Bank xếp chót
Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) ước tính biên lãi ròng (NIM) bình quân toàn ngành trong quý IV/2025 đạt 3,1%, đi ngang so với 9 tháng đầu năm nhưng cải thiện nhẹ so với quý liền trước dù vẫn chịu áp lực từ cạnh tranh huy động vốn và lãi suất cho vay thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tín hiệu cải thiện nhờ khả năng điều chỉnh lãi suất cho vay linh hoạt của các ngân hàng để bù đắp phần nào chi phí vốn tăng.
Ảnh: VDSC
Riêng quý cuối năm, hầu hết ngân hàng ghi nhận NIM phục hồi từ 0,1-0,4 điểm %, ngoại trừ một số trường hợp riêng lẻ NIM giảm như tại Sacombank (NIM giảm 1,4 điểm % do liên quan đến diễn biến nợ xấu) và SHB (NIM giảm 0,8 điểm %). Chuyên gia nhận định diễn biến NIM toàn ngành trong quý IV/2025 đã cho thấy tín hiệu tích cực về khả năng đà thu hẹp biên lãi kể từ 2023 đã chững lại.
Lũy kế cả năm 2025, NIM của toàn ngành nhìn chung có xu hướng duy trì ổn định trong vùng 3,0-3,1%, thấp hơn mức 3,3 - 3,5% của năm 2024 và tiếp đà thu hẹp kể từ 2023 trong môi trường lãi suất thấp.
Theo thống kê, 24/28 ngân hàng trong hệ thống báo NIM (ttm) 2025 giảm so với 2024. NIM giảm do tín dụng được thúc đẩy chủ yếu bởi nhóm khách hàng doanh nghiệp cùng với sự cạnh tranh gay gắt của các nhà băng khiến lãi suất cho vay duy trì ở mức thấp trong suốt cả năm. Cùng đó, chi phí huy động nhích lên, đặc biệt trong quý cuối năm do càng tạo thêm sức ép lên biên lãi.
Mức giảm NIM mạnh nhất được ghi nhận tại các ngân hàng như Nam A Bank (-0,89 điểm %), SeABank (-0,74 điểm %), HDBank (-0,72 điểm %), ACB (-0,69 điểm %), VIB (-0,61 điểm %). Trong đó, ACB và VIB là hai đại diện tiêu biểu cho xu hướng giảm NIM tại các ngân hàng bán lẻ khi động lực tăng trưởng tín dụng thời gian qua chủ yếu đến từ mảng khách hàng doanh nghiệp vốn có lợi suất cho vay thấp hơn tương đối.
Tại một số nhà băng nhỏ như BAOVIET Bank, Vietbank, Saigonbank..., NIM cũng tiếp tục giảm, một phần do sức ép cạnh tranh lãi suất. Trong đó, BAOVIET Bank là nhà băng có NIM thường xuyên trong top thấp nhất hệ thống. Tại thời điểm cuối năm 2025, NIM (ttm) của BAOVIET Bank đã giảm xuống 1,51% từ mức 1,85% của 2024, góp phần đưa thu nhập lãi thuần cả năm giảm svck dù tăng trưởng tín dụng ở mức tích cực (22%).
Ảnh: T.D tổng hợp
Chỉ số ít ngân hàng quy mô nhỏ báo NIM (ttm) 2025 cải thiện so với 2024 bao gồm Kienlongbank, ABBank, NCB và VietABank.
Trong đó, Kienlongbank là trường hợp đáng chú ý với NIM cải thiện liên tục trong những năm gần đây, từ vị trí top 5 nhà băng có NIM thấp nhất hệ thống hồi 2020 vươn lên top 3 nhà băng có NIM cao nhất hệ thống vào năm 2025.
Nỗ lực chuyển dịch cơ cấu tín dụng sang các lĩnh vực lợi suất cao tương đối là một trong những yếu tố hỗ trợ đà khởi sắc NIM tại Kienlongbank. Tại ngày 31/12/2025, khoảng 57% tổng dư nợ của nhà băng này, tương đương 40.659 tỷ đồng là cho vay lĩnh vực xây dựng và bất động sản, tăng 53% so với đầu năm. Mức độ tập trung tín dụng cao cho mảng bất động sản - xây dựng cũng đưa tỷ trọng dư nợ trung dài hạn tại Kienlongbank lên 48% tại thời điểm cuối năm 2025, góp phần làm gia tăng lợi suất tài sản.
Cùng đó, chất lượng tài sản tiếp tục cải thiện với tỷ lệ nợ xấu tại cuối quý IV/2025 giảm về 1,86% (từ 2,02% hồi đầu năm) đã hỗ trợ NIM của Kienlongbank, đưa nhà băng này lọt top 3 nhà băng NIM cao nhất bên cạnh VPBank và HDBank là hai ngân hàng nhiều năm liền dẫn đầu về NIM trong hệ thống.
Còn tại một số ngân hàng như NCB hay ABBANK, sự cải thiện rõ rệt chất lượng tài sản là yếu tố quan trọng hỗ trợ NIM khởi sắc trong năm qua.
Tại ngày 31/12/2025, tỷ lệ nợ xấu của ABBANK đã giảm mạnh về 0,88% từ mức 3,74% hồi đầu năm, đưa ABBANK vào top 3 nhà băng có NPL thấp nhất hệ thống cùng với Vietcombank và ACB. Đây là một phần nguyên nhân khiến NIM 2025 của ngân hàng tăng 0,82 điểm % so với cùng kỳ.
Còn tại NCB, ước tính NIM (ttm) 2025 đã cải thiện lên mức 1,78%. Nếu không tính khoản thoái lãi dự thu hơn 470 tỷ đồng theo PACCL, NIM (ttm) 2025 của NCB đạt gần 2,14%.
Tỷ suất sinh lời tăng một phần nhờ chất lượng tài sản cải thiện mạnh mẽ với tỷ lệ nợ xấu tại cuối năm 2025 giảm về 8,6% từ mức trên 19% hồi cuối năm 2024. Ngoài ra, lợi suất tài sản gia tăng khi NCB tăng cường tỷ trọng cho vay trung - dài hạn và cho vay bất động sản, xây dựng (chiếm khoảng 40% tổng dư nợ tại cuối quý III/2025) cũng góp phần vào mức tăng NIM.
Ảnh: T.D tổng hợp
Bước sang 2026, KBSec Việt Nam nhận định rằng "ổn định" sẽ là từ khóa phù hợp để nói về diễn biến NIM toàn ngành. Dù chịu áp lực nhất định từ chi phí vốn tăng lên, các chuyên gia kỳ vọng NIM sẽ được bù đắp bởi tăng trưởng đầu ra và chiến lược tối ưu danh mục cho vay của các nhà băng.
Theo đó, chi phí vốn được dự phóng sẽ nhích tăng do mặt bằng lãi suất huy động đã tạo đáy và đang hồi phục. Các kênh huy động khác cũng duy trì mức chi phí cao: lãi suất vay trên thị trường liên ngân hàng neo ở vùng cao trong thời gian dài, trong khi lãi suất phát hành trái phiếu cũng bám sát xu hướng mặt bằng lãi suất chung; gia tăng thách thức cho bài toán quản trị chi phí vốn. Trừ một số ngân hàng sở hữu lợi thế CASA lớn hoặc được hỗ trợ thanh khoản từ NHNN (Techcombank, MB, VPBank, HDBank, Vietcombank, Vietinbank) có thể sẽ kiểm soát chi phí vốn tăng với tốc độ chậm hơn so với mặt bằng ngành.
Bù lại, kỳ vọng lợi suất tài sản sinh lời hồi phục sẽ hạn chế tác động tiêu cực lên NIM nhờ các yếu tố như tăng trưởng tín dụng tiếp tục duy trì ở mức cao; lãi suất cho vay tăng nhẹ theo mặt bằng thị trường; cơ cấu tín dụng dần dịch chuyển sang các phân khúc có lợi suất cao hơn, như cho vay bất động sản, cho vay bán lẻ, và trung dài hạn; cũng như xu hướng cải thiện chất lượng tài sản giúp phần lãi phải thu được ghi nhận tốt hơn...
Tuy vậy, NIM có thể tiếp tục phân hoá tương đối mạnh giữa các nhóm ngân hàng. Nhóm ngân hàng quốc doanh, vốn đã duy trì mặt bằng lãi suất huy động rất thấp trong thời gian dài, nhiều khả năng sẽ chứng kiến biên lãi ròng cải thiện tốt hơn các ngân hàng tư nhân. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc ngân hàng yếu kém dự kiến cũng hồi phục tích cực nhờ lợi thế hạn mức tăng trưởng tín dụng cao và nguồn vốn đầu vào lãi suất ưu đãi.
Ngược lại, các ngân hàng tư nhân quy mô trung bình – nhỏ sẽ chịu áp lực lớn hơn, khiến NIM có xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ ở một số nhà băng. Nguyên nhân đến từ cạnh tranh quyết liệt ở cả đầu vào (huy động) và đầu ra (cho vay), đặc biệt tại những ngân hàng có tỷ lệ CASA thấp hoặc phải chạy đua tăng trưởng tín dụng.
Ảnh: T.D tổng hợp