Chuyên gia FiinRatings: Trong bối cảnh lãi suất cao, huy động vốn quốc tế là chiến lược khôn ngoan

Hạ An 07:45 | 29/08/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Trong bối cảnh thiếu hụt vốn trung và dài hạn và mặt bằng lãi suất huy động tăng cao, phát hành trái phiếu doanh nghiệp và huy động vốn quốc tế được đánh giá là những giải pháp thiết thực và khôn ngoan của các ngân hàng.

Huy động vốn từ trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) và vay vốn quốc tế là những giải pháp được các ngân hàng lựa chọn để tăng vốn huy động khi mặt bằng lãi suất tiết kiệm tăng cao và cuộc cạnh tranh tiền gửi ngày càng trở nên gay gắt trong khi nhu cầu vốn trung dài hạn lại ngày càng tăng.

Trong 7 tháng đầu năm, hàng chục nghìn tỷ đồng đã được huy động từ TPDN và hàng tỷ USD huy động vốn quốc tế đã góp phần không nhỏ bổ sung vào nguồn huy động của các ngân hàng.

Tuy nhiên, các kênh huy động này cũng luôn có hai mặt. Mặt bằng lãi suất tăng cao sẽ tác động như thế nào đến thị trường TPDN, các nhà phát hành cần chuẩn bị gì để thích ứng. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thảo Hạnh, Phó phòng Nghiên cứu và Dịch vụ Nhà đầu tư, CTCP FiinRatings xoay quanh vấn đề này.

- Thưa bà, khác với giai đoạn trước khi mặt bằng lãi suất ở mức thấp, giờ đây mặt bằng lãi suất đã bị đẩy lên cao, chi phí vốn tăng với cả ngân hàng và các doanh nghiệp, bối cảnh này sẽ tác động như thế nào đến thị trường TPDN?

Bà Nguyễn Thảo Hạnh: Theo ghi nhận của chúng tôi, mặt bằng lãi suất phát hành trái phiếu doanh nghiệp đã tăng khá đáng kể từ đầu năm 2026 đến nay. Đối với phần lớn các nhóm ngành, bao gồm cả ngân hàng và doanh nghiệp phi ngân hàng, lãi suất coupon phát hành hiện đã tăng khoảng 100–180 điểm cơ bản so với cuối năm 2025.

Điều này cho thấy chi phí huy động vốn qua kênh trái phiếu đang chịu tác động rõ rệt từ mặt bằng lãi suất chung.

Lãi suất phát hành trung bình theo ngành của TPDN trong 6 tháng đầu năm 2026 so với 6 tháng cuối năm 2025. (Nguồn: FiinRatings).

Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa có một đường cong lợi suất chuẩn cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường vốn nói chung.

Vì vậy, lãi suất phát hành trên thị trường sơ cấp vẫn thường được tham chiếu từ mặt bằng lãi suất tiền gửi của các ngân hàng lớn, cộng thêm một mức biên độ tùy thuộc vào chất lượng tín dụng và đặc điểm của từng tổ chức phát hành. Với các doanh nghiệp phi ngân hàng, mức chênh lệch này thông thường vào khoảng 2–4%.

Bà Nguyễn Thảo Hạnh, Phó phòng Nghiên cứu và Dịch vụ Nhà đầu tư, CTCP FiinRatings

Khi mặt bằng lãi suất tăng, bài toán cân bằng giữa chi phí vốn của doanh nghiệp và mức lợi suất mà nhà đầu tư kỳ vọng trở nên khó khăn hơn.

Trên thực tế, chúng tôi đang tham gia xếp hạng tín nhiệm cho một số doanh nghiệp và lô trái phiếu doanh nghiệp. Qua đó, chúng tôi ghi nhận trong một số trường hợp, tổ chức phát hành và đơn vị tư vấn vẫn gặp khó khăn trong việc tìm được mức lãi suất vừa đáp ứng nhu cầu huy động vốn của doanh nghiệp, vừa phù hợp với kỳ vọng lợi suất của nhà đầu tư.

Ở phía nhà đầu tư, trái phiếu doanh nghiệp hiện cũng phải cạnh tranh trực tiếp với lãi suất tiền gửi và các sản phẩm tiền gửi khác như chứng chỉ tiền gửi.

Khi các sản phẩm này mang lại mức lợi suất hấp dẫn với mức độ rủi ro thấp hơn, nhà đầu tư sẽ có xu hướng yêu cầu lợi suất cao hơn khi đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp. Điều này càng tạo áp lực lên chi phí huy động của doanh nghiệp và khiến một số kế hoạch phát hành phải điều chỉnh về quy mô, thời điểm hoặc mức lãi suất.

- Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 8,3 - 10,5%/năm trong tháng 7/2026. Trên thực tế, lãi suất cho vay ở nhiều ngân hàng hiện có thể lên tới 12% -14%/năm, điều này ảnh hưởng ra sao đến sự phục hồi của thị trường TPDN?

Bà Nguyễn Thảo Hạnh: Theo chúng tôi, việc lãi suất ngân hàng ở cả đầu vào và đầu ra duy trì ở mức cao như hiện nay tạo ra nhiều trở ngại hơn là trở thành “liều thuốc” xúc tác cho sự phục hồi của thị trường trái phiếu doanh nghiệp.

Tuy nhiên, thị trường vẫn ghi nhận nhiều lô trái phiếu được phát hành, nhờ những lợi thế nhất định của kênh trái phiếu, như kỳ hạn, cơ chế lãi suất cố định, cũng như mức độ minh bạch được cải thiện thông qua xếp hạng tín nhiệm và một số giao dịch gắn với trái phiếu xanh.

Bên cạnh đó, đối với các định chế lớn như doanh nghiệp bảo hiểm và các quỹ trái phiếu, họ cũng không đơn thuần chạy theo mức lãi suất tiền gửi cao của ngân hàng.

Các tổ chức này còn quan tâm đến việc đa dạng hóa danh mục đầu tư, đồng thời quản trị các rủi ro về kỳ hạn và lãi suất. Đây cũng là những yếu tố giúp duy trì nhu cầu đối với trái phiếu doanh nghiệp ngay cả trong bối cảnh mặt bằng lãi suất ngân hàng ở mức cao.

- Với các doanh nghiệp từng phát hành TPDN trong giai đoạn bùng nổ trước kia, mặt bằng lãi suất cao liệu có gây khó khăn cho việc mua lại TPDN?

Bà Nguyễn Thảo Hạnh: Điều này còn tùy thuộc vào cấu trúc và cơ chế lãi suất của từng lô trái phiếu đã phát hành. Nếu trái phiếu có cơ chế lãi suất cố định, thì trong bối cảnh mặt bằng lãi suất hiện nay, thực tế tổ chức phát hành lại có lợi thế so với việc phải vay tín dụng ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu mới với chi phí vốn cao hơn.

Do đó, về phía doanh nghiệp, họ có xu hướng hạn chế việc mua lại trái phiếu trước hạn, trừ trường hợp đây là nghĩa vụ hoặc điều khoản đã được cam kết với nhà đầu tư ngay từ khi phát hành.

- Nhu cầu vốn trong nước tăng cao đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, phải chăng các doanh nghiệp nên hướng ra nguồn vốn quốc tế. Doanh nghiệp cần làm gì để có thể tiếp cận nguồn vốn này?

Bà Nguyễn Thảo Hạnh: Theo chúng tôi, hướng tới nguồn vốn quốc tế là một chiến lược vốn phù hợp, dù môi trường lãi suất quốc tế hiện nay chưa thực sự thuận lợi.

Lãi suất Fed Funds và SOFR hiện vẫn neo ở mức khá cao, khoảng 3,6%/năm tính theo USD, do đó các doanh nghiệp Việt Nam khi huy động trái phiếu hoặc vay vốn quốc tế vẫn sẽ phải chịu mức lãi suất tương đối cao, tùy thuộc vào mức xếp hạng tín nhiệm của doanh nghiệp.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các tổ chức tín dụng như VPBank, Techcombank và Nam A Bank, đã và đang đẩy mạnh hoạt động huy động vốn quốc tế.

Chúng tôi đánh giá đây là một hoạt động cần thiết, bởi doanh nghiệp có thể được cấp hạn mức và thống nhất trước cơ chế định giá lãi suất; khi môi trường lãi suất quốc tế thuận lợi hơn, họ có thể chủ động giải ngân với quy mô lớn hơn.

Đây rõ ràng là một chiến lược vốn khôn ngoan, bởi việc chủ động xây dựng hồ sơ tín nhiệm trên thị trường quốc tế là tiền đề cho hoạt động huy động vốn không chỉ trong bối cảnh lãi suất cao hiện nay, mà còn cho một chiến lược vốn dài hạn. Khi mặt bằng lãi suất quốc tế trở nên thuận lợi hơn, doanh nghiệp đã có sẵn nền tảng và hồ sơ cần thiết để tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý hơn.

Với các tổ chức tín dụng, nguồn vốn quốc tế, phần lớn là vốn trung và dài hạn, cũng giúp cải thiện nhu cầu vốn dài hạn và trạng thái ngoại tệ của các tổ chức này.

Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh huy động vốn ngoại tệ cũng góp phần cải thiện nguồn vốn ngoại tệ cho hệ thống và cung ứng VND ra thị trường, thông qua việc Ngân hàng Nhà nước thực hiện mua lại và cung ứng VND khi các dòng vốn này được giải ngân.

Chúng tôi đánh giá yếu tố này đã góp phần giúp cán cân tài khoản vốn của Việt Nam ổn định hơn trong bối cảnh thâm hụt thương mại lớn như hiện nay.

Đối với một số doanh nghiệp phi tài chính, bao gồm một số doanh nghiệp nhà nước mà chúng tôi đang làm việc, các doanh nghiệp này cũng đang chuẩn bị cho hoạt động huy động vốn quốc tế thông qua xếp hạng tín nhiệm quốc tế với đối tác chiến lược của chúng tôi là S&P Global Ratings, phục vụ mục tiêu huy động vốn quốc tế; đồng thời với FiinRatings, phục vụ cho mục đích huy động vốn trong nước.

Trân trọng cảm ơn bà!