Dư địa nào cho điều hành chính sách tiền tệ?
Năm 2025 ghi dấu một năm thị trường tiền tệ Việt Nam biến động mạnh khi các áp lực từ cả bên ngoài lẫn nội tại nền kinh tế cùng lúc gia tăng. Những cụm từ như “chênh lệch lãi suất VND – USD”, “bơm ròng”, “áp lực lên tỷ giá” xuất hiện dày đặc trong các báo cáo phân tích, phản ánh sức ép lớn đặt lên cơ quan điều hành chính sách tiền tệ.
Tuy nhiên, nhà điều hành cũng có một năm thành công với việc điều hành linh hoạt và phối hợp đồng bộ nhiều công cụ, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Vừa tăng trưởng tín dụng mạnh lại vừa giữ được mặt bằng lãi suất thấp trong gần như cả năm.
Ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 16%, gắn với mục tiêu tăng trưởng GDP trên 8%, đồng thời yêu cầu các tổ chức tín dụng ưu tiên vốn cho sản xuất – kinh doanh, xuất khẩu và doanh nghiệp nhỏ và vừa, song song với việc kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Theo NHNN, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đến 24/12/2025 đạt 18,4 triệu tỷ đồng, tăng 17,87% so với đầu năm và tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước.
Thị trường liên ngân hàng sôi động
Trên thị trường mở, bơm ròng là xu hướng chủ đạo xuyên suốt năm 2025. Tính đến ngày 30/12/2025, NHNN đã bơm ròng hơn 31.400 tỷ đồng, trong khi hoạt động phát hành tín phiếu hầu như không đáng kể và được điều chỉnh linh hoạt theo từng giai đoạn, có thời điểm tạm dừng hoàn toàn nhằm điều tiết thanh khoản hệ thống.
Để hỗ trợ vốn cho các ngân hàng thương mại, lãi suất OMO được giữ nguyên trong gần như suốt năm, chỉ đến tháng 12, nhà điều hành mới nâng lãi suất lên 4,5%/năm sau hơn 14 tháng ổn định ở mức 4% trong bối cảnh áp lực thanh khoản hệ thống tăng cao.
Cùng với đó, kỳ hạn cho vay trên kênh cầm cố giấy tờ có giá được kéo dài lên đến 91 ngày, thậm chí có thời điểm tới 105 ngày. Động thái này phát đi thông điệp về việc NHNN sẵn sàng duy trì hỗ trợ thanh khoản dài hơn cho các tổ chức tín dụng trong bối cảnh nhu cầu vốn tăng lên.
Giai đoạn đầu năm, thanh khoản hệ thống dồi dào giúp lãi suất qua đêm lùi về quanh mức thấp, có thời điểm chỉ còn khoảng 1,62%/năm - mức thấp nhất kể từ tháng 3/2024 đến nay.
Tuy nhiên, từ giữa năm trở đi, khi nhu cầu tín dụng tăng và chu kỳ dự trữ bắt buộc quay lại, lãi suất liên ngân hàng nhích lên, đặc biệt vào quý III và đầu quý IV.
Lãi suất liên ngân hàng qua đêm đã tăng lên mức trung bình 5% trong tháng 10 và tháng 11 và lập đỉnh mới ở mức 7,49% (phiên 8/12), phản ánh tình trạng thiếu hụt thanh khoản cục bộ dù NHNN vẫn duy trì quy mô hỗ trợ vốn lớn trên kênh cầm cố.
(Nguồn: Wichart)
Trong đợt căng thẳng cuối năm, bên cạnh các công cụ trên thị trường mở, NHNN cũng đã triển khai một công cụ điều hành mới để ổn định thị trường tiền tệ là hoán đổi ngoại tệ (Swap USD/VND). Theo đó, NHNN mua USD giao ngay từ các ngân hàng thương mại và bán USD kỳ hạn 14 ngày.
Thực chất, đây là nghiệp vụ tương đương việc ngân hàng thương mại vay VND từ NHNN với tài sản cầm cố là USD và khoản chênh lệch 10 đồng trong 14 ngày chính là chi phí lãi vay (ước tính khoảng 5%/năm). Công cụ này giúp hỗ trợ thanh khoản VND ngắn hạn mà vẫn bảo đảm nguồn dự trữ ngoại hối.
Ổn định tỷ giá vẫn là nhiệm vụ trọng tâm
Ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối là một trong những trọng tâm điều hành xuyên suốt năm 2025. Tỷ giá USD/VND chịu áp lực trong bối cảnh USD quốc tế biến động mạnh và chênh lệch lãi suất trong – ngoài nước thay đổi, khiến NHNN gặp nhiều khó khăn hơn trong việc duy trì các chính sách tiền tệ nới lỏng.
Trong tháng 8 và tháng 10, NHNN đã phải can thiệp bằng cách bán hợp đồng USD kỳ hạn cho các ngân hàng thương mại. Đồng thời liên tiếp điều chỉnh tỷ giá trung tâm và điều tiết thanh khoản qua thị trường mở.
Song bất chấp các yếu tố bất định liên quan đến thuế quan, giá vàng tăng sốc gây áp lực lên tỷ giá nhưng mức giảm giá từ đầu năm đến nay của VND chỉ ở mức khiêm tốn 3,5%, tương đương với các năm trước.
Theo giới phân tích, biến động tỷ giá được kiểm soát nhờ sự góp phần của sự tích cực từ vĩ mô khi tăng trưởng GDP cao hơn kỳ vọng, USD giảm giá trên thị trường quốc tế và việc NHNN duy trì lãi suất điều hành ở mức 4,5%, đồng thời thực hiện can thiệp ngoại hối nhằm giảm thiểu các biến động mạnh trên thị trường.
(Nguồn: MBS)
Trao đổi với người viết, TS. Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách, Vin University, cho rằng thách thức lớn nhất của NHNN trong năm qua là bài toán cân đối giữa lãi suất và tỷ giá.
Theo ông, cơ quan điều hành không mong muốn đồng VND mất giá mạnh, tuy nhiên, khi nới lỏng chính sách tiền tệ trong bối cảnh lãi suất ngoại tệ trên thị trường quốc tế ở mức cao, dòng vốn có xu hướng chảy ra ngoài.
“Mặc dù cán cân vãng lai thặng dư lớn, dự trữ ngoại hối chỉ tăng thêm khoảng 4–5 tỷ USD, cho thấy một lượng vốn đáng kể vẫn bị rút ra khỏi nền kinh tế. Áp lực này khiến tỷ giá từng rơi vào những giai đoạn căng thẳng, buộc NHNN phải can thiệp mạnh”, ông nói.
Vị chuyên gia cũng chỉ ra thách thức khác đối với nhà điều hành là vấn đề thanh khoản hệ thống ngân hàng. Khi dòng tiền chảy ra ngoài và giá tài sản tăng, tiền gửi của dân cư và tổ chức kinh tế suy giảm do một phần vốn chuyển sang các kênh đầu cơ như bất động sản, vàng, chứng khoán.
"Điều này khiến NHNN phải hỗ trợ thanh khoản rất lớn cho hệ thống ngân hàng trong những tháng cuối năm. Việc bơm lượng tiền lớn ra thị trường đồng nghĩa với chi phí đáng kể trong tương lai khi cần hút tiền trở lại", ông nói.
Theo chuyên gia, thách thức cốt lõi của NHNN là cân đối đồng thời giữa tỷ giá và lãi suất, cũng như giữa tín dụng và huy động để đảm bảo thanh khoản của hệ thống. Ngoài ra, nguy cơ nợ xấu gia tăng cũng là vấn đề đáng lưu ý trong năm nay và năm tới, khi các hoạt động cho vay trong giai đoạn bùng nổ giá tài sản có thể chững lại và NHNN cần thận trọng trong năm 2026.
Dư địa điều hành chính sách tiền tệ năm 2026
Theo TS. Nguyễn Tú Anh, trong năm 2026 yếu tố quan trọng nhất tác động đến việc điều hành chính sách tiền tệ là chênh lệch lãi suất trong nước và quốc tế. Nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục hạ lãi suất, đó sẽ là điều kiện thuận lợi lớn cho NHNN.
Điều này đặc biệt đúng trong bối cảnh xu hướng kinh tế vĩ mô tiếp tục diễn biến tích cực, chẳng hạn như dòng vốn FDI duy trì, cán cân thương mại khả quan như năm 2025 và không có những thay đổi chính sách đột ngột từ phía Mỹ. Khi đó, việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN sẽ thuận lợi hơn so với năm 2025.
Tuy nhiên, chuyên gia cũng lưu ý các rủi ro bên ngoài có thể phát sinh. Nếu Fed không hạ lãi suất và tiếp tục duy trì mặt bằng lãi suất cao, hoặc Mỹ có những điều chỉnh về chính sách thương mại đối với các đối tác, trong đó có Việt Nam, điều này có thể gây xáo trộn chuỗi cung ứng, ảnh hưởng cán cân thanh toán và khiến điều hành chính sách tiền tệ trở nên khó khăn hơn.
Một yếu tố then chốt khác là kiểm soát lạm phát tài sản ở mức phù hợp, nhằm tránh việc các kênh tài sản hình thành bong bóng, kích thích đầu cơ và tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ thị trường.
Dựa trên diễn biến thực tế, các định chế tài chính như UOB (Singapore) và Shinhan Việt Nam (Shinhan Bank) cũng đưa ra những kịch bản cụ thể cho thị trường Việt Nam năm 2026.
Về lãi suất, các định chế này cho rằng sẽ khó giảm thêm. UOB dự báo NHNN sẽ duy trì ổn định lãi suất tái cấp vốn ở mức 4,5%. Đối với tỷ giá, bước sang năm 2026, UOB kỳ vọng VND sẽ tiếp tục diễn biến kém tích cực hơn so với các đồng tiền trong khu vực, dù USD dự báo giảm nhẹ trong bối cảnh chung
Theo kịch bản của UOB, dự báo tỷ giá USD/VND lần lượt ở mức 26.300 trong quý I/2026, 26.100 trong quý II/2026, 26.000 trong quý III/2026 và 25.900 trong quý IV/2026.
Bàn về triển vọng năm 2026, Shinhan Bank nhận định rằng NHNN sẽ tiếp tục theo đuổi mục tiêu hạn chế biến động tỷ giá quá mạnh, đặt ưu tiên cao cho ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát .
Với mặt bằng lãi suất đang ở gần mức thấp nhất trong lịch sử, dư địa cho chính sách tiền tệ được xem là hạn chế, nên Việt Nam nhiều khả năng sẽ tăng cường sử dụng chính sách tài khóa, như đẩy mạnh đầu tư công, nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong năm 2026", báo cáo viết.
Báo cáo Shinhan Bank cũng lưu ý, tỷ lệ nợ xấu (NPL) trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện ở mức khoảng 5%, khiến yêu cầu xử lý nợ xấu, tăng vốn điều lệ và củng cố an toàn tài chính trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Song song đó, Việt Nam được kỳ vọng sẽ duy trì động lực cải cách bao gồm cải thiện thể chế, nâng cao vai trò khu vực tư nhân, thúc đẩy các ngành kỹ thuật số, AI và bán dẫn, qua đó điều tiết tốc độ mất giá của VND ở mức hợp lý và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.