Vì sao thị trường chứng khoán Việt Nam thiếu vắng sự dẫn dắt của cổ phiếu công nghệ?

La Giang 13:26 | 16/06/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Megatrend toàn cầu đang xoay quanh AI, chip và data center nhưng Việt Nam gần như đứng ngoài cuộc chơi. Tại Vietnam Investment Forum 2026 - Summer Summit, các chuyên gia không chỉ nêu vấn đề mà còn chỉ ra một nguyên nhân ít được nhắc tới là cả doanh nghiệp lẫn nhà đầu tư đều đang thiếu sự kiên nhẫn cần thiết.

Tại Vietnam Investment Forum 2026 - Summer Summit, một câu hỏi được đặt ra nhưng chưa có câu trả lời dứt khoát là "Tại sao Việt Nam chưa có doanh nghiệp công nghệ đủ lớn để dẫn dắt thị trường, trong khi các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan hay Mỹ đã sở hữu những tập đoàn tỷ USD gắn liền với làn sóng AI, bán dẫn hay trung tâm dữ liệu?"

Câu hỏi này dẫn đến một nghịch lý đáng suy ngẫm. Việt Nam hiện có hơn 12 triệu tài khoản chứng khoán, dòng vốn đầu tư nước ngoài liên tục tăng và ngày càng nhiều doanh nghiệp tham gia cuộc đua công nghệ. Tuy nhiên, trên thị trường vẫn thiếu vắng những doanh nghiệp đủ quy mô để dẫn dắt các xu hướng công nghệ toàn cầu.

Nguyên nhân có thể không nằm ở việc thiếu tiền hay thiếu ý tưởng. Vấn đề nằm ở chỗ liệu thị trường có đủ kiên nhẫn để nuôi dưỡng những doanh nghiệp phải chấp nhận thua lỗ trong nhiều năm nhằm đổi lấy tăng trưởng hay không.

Nói cách khác, đây là câu chuyện về cách nhà đầu tư phân bổ vốn và khả năng chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp, khi cả hai phía đều có xu hướng lựa chọn sự an toàn trước mắt thay vì đặt cược cho một tương lai xa hơn.

Nhà đầu tư chạy theo sóng ngắn - không ai sai, nhưng thị trường thiệt

Ông Trần Thăng Long, Phó Tổng Giám đốc CTCP Chứng khoán BIDV (Mã: BSC) cho biết chỉ số chứng khoán Hàn Quốc trong vòng một năm đã tăng từ khoảng 2.500 điểm lên 8.500 điểm, tương đương hơn ba lần, nhờ làn sóng AI và bán dẫn với sự dẫn dắt của những tập đoàn công nghệ hàng đầu như Samsung hay SK Hynix.

Đằng sau mức tăng đó không chỉ là câu chuyện tăng trưởng của doanh nghiệp mà còn là khả năng nhận diện và đồng hành cùng các xu hướng lớn (Megatrend) của nhà đầu tư. Khi một xu hướng đủ mạnh xuất hiện, thị trường sẵn sàng dành thời gian và nguồn lực để doanh nghiệp mở rộng quy mô, đầu tư cho tương lai.

Trong khi đó, tại Việt Nam, phần lớn nhà đầu tư vẫn quen với việc tìm kiếm cơ hội theo từng nhịp tăng giảm của thị trường. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi không phải ai cũng sẵn sàng chấp nhận rủi ro hoặc chờ đợi nhiều năm cho một câu chuyện tăng trưởng chưa thành hình.

Ông Trần Thăng Long, Phó Tổng Giám đốc CTCP Chứng khoán BIDV (Mã: BSC). Ảnh: BTC.

"Trong những giai đoạn thuận lợi, nhiều nhà đầu tư có thể đạt được lợi nhuận tốt. Nhưng khi bước vào các giai đoạn khó khăn, kết quả thường đảo chiều và đó là lý do người ta hay nói vui rằng thị trường luôn có cách lấy lại những gì đã cho đi", ông Long chia sẻ.

Theo ông, với phần lớn nhà đầu tư cá nhân, chiến lược phù hợp hơn là đầu tư vào các chỉ số hoặc quỹ ETF để nhận mức sinh lời trung bình của thị trường. Phần còn lại mới dành cho việc lựa chọn những doanh nghiệp mà họ thực sự hiểu và tin tưởng.

Tuy nhiên, chính tư duy ưu tiên sự chắc chắn đó cũng đặt ra một câu hỏi khác: nếu phần lớn dòng tiền chỉ sẵn sàng tìm đến những doanh nghiệp đã có lợi nhuận, đã chứng minh được hiệu quả kinh doanh, thì ai sẽ đồng hành cùng các doanh nghiệp công nghệ trong giai đoạn đầu tư mạnh nhất, khi họ vẫn phải chấp nhận chi phí lớn cho nghiên cứu và phát triển nhưng chưa thể tạo ra kết quả ngay lập tức?

Doanh nghiệp Việt chỉ chịu "đốt tiền" hai năm

Trong khi ông Long nhìn vấn đề từ góc độ nhà đầu tư, ông Nguyễn Minh Hạnh - Giám đốc Trung tâm Phân tích - CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (Mã: SHS) lại đi thẳng vào bài toán dòng vốn của doanh nghiệp.

Ông Hạnh cho biết phần lớn doanh nghiệp AI tại Việt Nam hiện nay đang phát triển theo hướng sử dụng API hoặc các mô hình ngôn ngữ lớn như LLM có sẵn từ nước ngoài, sau đó tùy biến để phù hợp với nhu cầu trong nước. Về bản chất, đây là việc sử dụng các nền tảng có sẵn rồi phát triển thêm các tính năng. Điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chưa thực sự sở hữu công nghệ lõi.

Cách làm này giúp tiết kiệm thời gian và chi phí phát triển ban đầu. Tuy nhiên, khi bên cung cấp công nghệ gốc thay đổi chính sách hoặc tăng giá dịch vụ, những doanh nghiệp phụ thuộc vào nền tảng đó sẽ ngay lập tức chịu tác động.

ông Nguyễn Minh Hạnh - Giám đốc Trung tâm Phân tích - CTCP Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (Mã: SHS). Ảnh: BTC.

Theo ông Hạnh, nếu quan sát các doanh nghiệp công nghệ hàng đầu thế giới, có thể thấy nhiều công ty đã chấp nhận "đốt tiền" trong suốt một thập kỷ để theo đuổi mục tiêu dài hạn.

"Ở Việt Nam hiện tại chỉ có một công ty dám làm như thế. Họ dám làm nhưng lúc nào cũng ở trong tình trạng áp lực", ông Hạnh nói nói.

Trong khi đó, tại các thị trường phát triển, việc hàng trăm, thậm chí hàng nghìn doanh nghiệp chấp nhận chi rất lớn cho nghiên cứu và phát triển trong nhiều năm liên tiếp là điều tương đối bình thường.

"Ví dụ, nếu tôi đầu tư vào một hệ thống nào đó và phải bỏ ra khoảng 20 tỷ đồng mà chưa nhìn thấy kết quả, tôi sẽ bắt đầu cảm thấy số tiền đó quá lớn và phải cân nhắc lại. Doanh nghiệp cũng vậy, bởi nguồn vốn dài hạn của chúng ta còn hạn chế", ông Hạnh chia sẻ.

Việc sở hữu công nghệ lõi thực sự cần một quá trình đầu tư kéo dài nhiều năm. Tuy nhiên, đây lại là điều mà hệ sinh thái doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu. Khả năng xuất hiện những doanh nghiệp công nghệ có quy mô đủ lớn để cạnh tranh với các tập đoàn hàng đầu thế giới là không dễ.

"Hầu hết doanh nghiệp Việt Nam hiện nay không có nguồn vốn đủ dài hạn. Chúng ta có thể cắn răng chịu đựng đầu tư và chịu lỗ trong hai năm đầu. Nhưng nếu sau hai năm vẫn lỗ thì tâm lý nản lòng bắt đầu xuất hiện. Như vậy rất khó để tự tạo ra một doanh nghiệp đủ lớn", ông Hạnh nhận định.

Để minh họa, ông nhắc đến những ông lớn như Tesla hay SpaceX, các doanh nghiệp từng chấp nhận thua lỗ trong thời gian dài trước khi đạt được quy mô hàng tỷ USD.

Hai mặt của cùng một vấn đề

Dĩ nhiên, nhà đầu tư cá nhân không phải nguồn vốn duy nhất quyết định sự hình thành của các doanh nghiệp công nghệ lớn. Nhưng tâm lý đầu tư ngắn hạn trên thị trường đại chúng phần nào phản ánh một thực tế rộng hơn: vốn dài hạn và sự chấp nhận rủi ro cao cho công nghệ lõi tại Việt Nam vẫn còn hạn chế.

Ở đây không có ai hoàn toàn sai. Nhà đầu tư cá nhân có lý khi tránh rủi ro và ưu tiên những doanh nghiệp đã chứng minh được hiệu quả kinh doanh. Doanh nghiệp cũng có lý khi không thể "đốt tiền" vô thời hạn trong bối cảnh nguồn vốn còn hạn chế.

Tuy nhiên, khi cả hai phía cùng hành động hợp lý theo lợi ích của mình, kết quả chung lại không hẳn thuận lợi cho sự hình thành của những doanh nghiệp công nghệ quy mô lớn. Những doanh nghiệp cần nhiều năm đầu tư, chấp nhận thua lỗ và đòi hỏi dòng vốn đủ kiên nhẫn để đồng hành.

Ảnh minh họa.

Ông Hạnh cũng chia sẻ: "Cần nhìn nhận thực tế rằng trên thế giới, số doanh nghiệp sở hữu hạ tầng công nghệ lõi thực chất chỉ có vài chục công ty. Nếu chia cho hơn 200 quốc gia thì sẽ có rất nhiều nước không có doanh nghiệp nào nằm trong nhóm dẫn đầu. Trong lĩnh vực bán dẫn chẳng hạn, số lượng doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của ngành là rất ít và phần lớn tập trung tại Mỹ. Vì vậy, việc Việt Nam hiện chưa có doanh nghiệp nằm trong nhóm công nghệ hàng đầu thế giới cũng là điều tương đối dễ hiểu."

Nhưng câu hỏi đặt ra không phải là liệu Việt Nam có nhất thiết phải tạo ra một OpenAI hay NVIDIA của riêng mình hay không mà thay vào đó là câu hỏi "nếu muốn, liệu hệ sinh thái hiện tại - với vòng quay vốn ngắn, áp lực kết quả kinh doanh và tâm lý đầu tư theo sóng - có đủ điều kiện để nuôi dưỡng một doanh nghiệp như vậy hay không?"