Xuất khẩu thủy sản vượt 1 tỷ USD trong tháng 7

Trang Mai 12:34 | 05/08/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tiếp tục duy trì kim ngạch trên 1 tỷ USD trong tháng 7/2026. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng đã chậm lại khi nhiều thị trường lớn suy giảm, trong khi chính sách thuế mới của Mỹ được dự báo sẽ tác động rõ hơn đến đơn hàng từ tháng 8.

Theo số liệu của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 7 đạt gần 1,02 tỷ USD, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế 7 tháng đầu năm, xuất khẩu toàn ngành đạt gần 6,78 tỷ USD, tăng 11,5%. Kết quả này tiếp tục củng cố khả năng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả năm vượt mốc 12 tỷ USD.

Dù vậy, mức tăng trong tháng 7 thấp hơn đáng kể so với tốc độ chung của 7 tháng. Một số mặt hàng và thị trường chủ lực đã ghi nhận dấu hiệu chững lại.

Trong đó, xuất khẩu cá tra giảm 6,1%, cá ngừ gần như đi ngang. Kim ngạch sang EU, Hàn Quốc và Trung Đông đều giảm trên 10%.

Áp lực cũng gia tăng tại thị trường Mỹ khi từ ngày 24/7, thủy sản Việt Nam bắt đầu chịu thêm thuế Section 301 ở mức 12,5%. Do độ trễ của hợp đồng và thời gian vận chuyển, tác động của chính sách này chưa phản ánh đầy đủ trong kết quả tháng 7, nhưng có thể rõ nét hơn từ tháng 8 và quý IV.

Xuất khẩu tôm tăng chậm lại

Tôm tiếp tục là mặt hàng đóng góp lớn nhất vào tổng kim ngạch thủy sản. Trong tháng 7, xuất khẩu tôm đạt hơn 428 triệu USD, tăng 4,5%.

Lũy kế 7 tháng, kim ngạch mặt hàng này đạt gần 2,78 tỷ USD, tăng 12,6% và chiếm khoảng 41% tổng giá trị xuất khẩu toàn ngành.

Tuy nhiên, mức tăng trong tháng 7 thấp hơn đáng kể so với tốc độ của cả giai đoạn 7 tháng. Điều này cho thấy xuất khẩu tôm vẫn tăng nhưng động lực không còn mạnh như đầu năm.

Một phần tăng trưởng hiện nay đến từ tôm hùm xuất khẩu sang Trung Quốc. Trong khi đó, tôm chân trắng và tôm sú Việt Nam phải đối mặt với cạnh tranh ngày càng lớn tại Mỹ, EU và Nhật Bản.

Áp lực đáng chú ý đến từ Ecuador. Quốc gia này không chỉ tăng nguồn cung tôm nguyên đầu mà còn đẩy mạnh các sản phẩm bỏ đầu, bóc vỏ và chế biến.

Sự dịch chuyển này khiến Ecuador dần chuyển từ nhà cung cấp nguyên liệu giá thấp sang cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp châu Á trong phân khúc sản phẩm có giá trị gia tăng.

Tại Mỹ, thủy sản Việt Nam chịu mức thuế Section 301 là 12,5%, cao hơn mức 10% áp dụng đối với Ecuador, Ấn Độ, Indonesia và một số đối thủ khác.

Chênh lệch 2,5 điểm phần trăm có thể tạo áp lực đáng kể đối với các hợp đồng tôm đông lạnh có biên lợi nhuận thấp. Ngoài thuế mới, sản phẩm còn có thể chịu thuế tối huệ quốc, thuế chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp tùy từng quốc gia và doanh nghiệp.

Nhà nhập khẩu Mỹ vì vậy có thể yêu cầu doanh nghiệp Việt Nam giảm giá, chia sẻ chi phí thuế hoặc rút ngắn thời hạn hợp đồng.

Triển vọng xuất khẩu tôm trong những tháng cuối năm sẽ phụ thuộc vào sức mua tôm hùm của Trung Quốc, khả năng duy trì đơn hàng chế biến sâu tại Nhật Bản và EU, cùng mức độ dịch chuyển đơn hàng Mỹ sang các nguồn cung khác.

Cá tra giảm trong tháng 7

Xuất khẩu cá tra tháng 7 đạt gần 184 triệu USD, giảm 6,1% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng, kim ngạch vẫn đạt gần 1,3 tỷ USD, tăng 8,8%.

Sự suy giảm trong tháng 7 diễn ra khi các thị trường lớn điều chỉnh nhu cầu sau giai đoạn nhập khẩu tích cực trong nửa đầu năm.

Trung Quốc giảm mua một số quy cách cá kích cỡ lớn, trong khi xuất khẩu sang Mỹ chưa phục hồi rõ rệt. Giá cá nguyên liệu trong nước vì vậy có sự phân hóa theo kích cỡ.

Cá cỡ vừa, phù hợp để sản xuất phi lê cho thị trường EU, có đầu ra thuận lợi hơn so với cá lớn chủ yếu phục vụ thị trường Trung Quốc.

Dù vậy, cá tra Việt Nam đang có thêm cơ hội tại phân khúc cá thịt trắng ở châu Âu. Giá cá tuyết Đại Tây Dương, cá haddock và cá minh thái vẫn ở mức cao do hạn ngạch thấp, chi phí khai thác tăng và nguồn cung Nga gặp nhiều bất ổn.

Các nhà chế biến châu Âu vì vậy có xu hướng cân nhắc sử dụng cá tra và cá rô phi cho các sản phẩm như cá tẩm bột, bánh cá, khẩu phần đông lạnh và dịch vụ ăn uống.

Tuy nhiên, khả năng thay thế các loại cá thịt trắng truyền thống không diễn ra tự động. Nhà nhập khẩu EU yêu cầu sản phẩm phải đáp ứng tiêu chuẩn về chứng nhận bền vững, truy xuất nguồn gốc, độ ổn định của màu thịt và khả năng cung ứng dài hạn.

Từ ngày 10/1/2026, nhà nhập khẩu EU phải sử dụng hệ thống CATCH để nộp chứng thư khai thác và hồ sơ liên quan đối với thủy sản khai thác nhập khẩu.

Quy định này không áp dụng trực tiếp theo cùng cách đối với cá tra nuôi nhưng làm tăng chi phí và rủi ro đối với các sản phẩm cá thịt trắng khai thác. Đây có thể trở thành lợi thế tương đối cho cá tra nếu doanh nghiệp tận dụng tốt nhu cầu thay thế nguyên liệu.

Trong quý IV, xuất khẩu cá tra có thể phục hồi nếu doanh nghiệp ký được các hợp đồng thay thế cá tuyết và cá minh thái cho mùa tiêu thụ cuối năm. Dư địa tăng trưởng được đánh giá cao hơn ở các sản phẩm cắt phần, tẩm bột và chế biến sẵn thay vì chỉ phụ thuộc vào phi lê đông lạnh.

Cá ngừ gần như không tăng trưởng

Xuất khẩu cá ngừ tháng 7 đạt hơn 69 triệu USD, giảm nhẹ 0,1%. Sau 7 tháng, kim ngạch đạt gần 524 triệu USD, giảm 1,4%.

Kết quả này cho thấy mức tăng mạnh trong tháng 6 chủ yếu mang tính thời điểm, khi nhiều lô hàng được giao sớm trước thời điểm chính sách thuế mới của Mỹ có hiệu lực.

Cá ngừ là một trong những ngành chịu tác động kép tại thị trường Mỹ. Ngoài thuế Section 301 ở mức 12,5%, doanh nghiệp còn phải đáp ứng các quy định thuộc Đạo luật Bảo vệ động vật có vú biển của Mỹ.

Một số sản phẩm có cùng nước xuất xứ và mã hàng với các nghề cá chưa được Mỹ công nhận tương đương phải kèm chứng nhận đủ điều kiện nhập khẩu. Hồ sơ cần chứng minh rõ loài, khu vực và phương pháp khai thác không thuộc diện bị hạn chế.

Doanh nghiệp phải kiểm soát chặt thông tin về tàu khai thác, ngư cụ, vùng biển, quốc gia khai thác và sự thống nhất giữa chứng nhận với hồ sơ nhập khẩu.

Chỉ một sai lệch về mã nghề, vùng khai thác hoặc mã hàng cũng có thể khiến lô hàng bị giữ lại để kiểm tra.

Tại EU, cá ngừ tiếp tục chịu sức ép từ thẻ vàng IUU, hệ thống CATCH và quy tắc xuất xứ của Hiệp định EVFTA. Việc sử dụng nguyên liệu nhập khẩu ngoài khối khiến một số sản phẩm không đáp ứng được quy tắc xuất xứ hoặc phải phụ thuộc vào hạn ngạch thuế quan.

Trong phần còn lại của năm, xuất khẩu cá ngừ được dự báo khó tăng mạnh. Các thị trường như Nga, Ai Cập, Israel, Philippines và khối CPTPP có thể bù đắp một phần kim ngạch nhưng chưa đủ khả năng thay thế Mỹ và EU.

Cua ghẹ tăng hơn 51%

Cua ghẹ và các loại giáp xác khác là nhóm hàng có mức tăng mạnh nhất trong tháng 7.

Kim ngạch xuất khẩu nhóm này đạt hơn 41 triệu USD, tăng 51,1%. Lũy kế 7 tháng đạt gần 246 triệu USD, tăng 28,7%.

Nhuyễn thể có vỏ cũng đạt 25,6 triệu USD trong tháng, tăng 21,4%. Sau 7 tháng, kim ngạch đạt hơn 178 triệu USD, tăng 29,5%.

Thị trường Mỹ tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với xuất khẩu cua ghẹ. Ngày 11/5/2026, Cơ quan Quản lý khí quyển và đại dương Mỹ đã công nhận lại tính tương đương đối với nghề ghẹ bơi của Việt Nam, qua đó giảm rủi ro bị cấm nhập khẩu.

Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến chứng nhận xuất xứ nguyên liệu đối với những mã hàng bị đánh dấu. Rủi ro hồ sơ vẫn còn khi danh sách mã hàng, nghề cá và vùng khai thác có thể tiếp tục được cập nhật.

Ở chiều ngược lại, xuất khẩu nhuyễn thể chân đầu đạt gần 66 triệu USD, giảm 1,4% trong tháng 7, dù lũy kế 7 tháng vẫn tăng 14,6%.

Đà tăng của mực và bạch tuộc có dấu hiệu chậm lại do giá nguyên liệu cao và nhu cầu tại một số thị trường châu Á suy yếu.

Trung Quốc tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng

Trung Quốc và Hong Kong (Trung Quốc) tiếp tục là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam trong tháng 7, với kim ngạch hơn 267 triệu USD, tăng 24,7%.

Lũy kế 7 tháng, xuất khẩu sang khu vực này đạt gần 1,74 tỷ USD, tăng 34,5%.

Tôm hùm, tôm chân trắng, cá tra, cua ghẹ và một số loại hải sản khác đều hưởng lợi từ nhu cầu tại Trung Quốc.

Mức tăng trưởng của thị trường này đóng góp đáng kể vào kết quả chung của toàn ngành. Nếu không tính phần kim ngạch tăng thêm hơn 445 triệu USD từ Trung Quốc và Hong Kong trong 7 tháng, bức tranh xuất khẩu thủy sản sẽ kém tích cực hơn.

Xuất khẩu sang Mỹ đạt hơn 159 triệu USD trong tháng 7, tăng 6,3%. Lũy kế 7 tháng đạt hơn 1,05 tỷ USD nhưng chỉ tăng 0,3%.

Nhật Bản nhập khẩu hơn 144 triệu USD thủy sản Việt Nam trong tháng 7, tăng 3,8%. Lũy kế 7 tháng tăng 2,6%.

Kim ngạch xuất khẩu sang các nước CPTPP đạt hơn 1,78 tỷ USD, tăng 8,1%, tiếp tục là khu vực thị trường tương đối ổn định.

Trong khi đó, xuất khẩu sang EU giảm 10,9% trong tháng và giảm 2,7% sau 7 tháng. Hàn Quốc giảm 10,8%, ASEAN giảm 6% và Trung Đông giảm 16%.

Sự sụt giảm tại EU không chỉ xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng mà còn liên quan đến yêu cầu số hóa hồ sơ CATCH. Những sai lệch về chứng thư, mã hàng, trọng lượng, tàu khai thác hoặc hồ sơ chế biến có thể làm tăng nguy cơ chậm thông quan.

 Ảnh: Vasep. 

Áp lực thuế có thể rõ hơn từ tháng 8

Theo bà Lê Hằng, Phó Tổng Thư ký Vasep, với kim ngạch gần 6,78 tỷ USD sau 7 tháng, mục tiêu xuất khẩu thủy sản trên 12 tỷ USD trong năm 2026 vẫn được đánh giá khả thi.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng trong những tháng còn lại có thể thấp hơn mức 11,5% hiện tại, đặc biệt khi thuế Section 301 của Mỹ bắt đầu phản ánh vào các đơn hàng mới.

Các hợp đồng xuất khẩu sang Mỹ có khả năng được đàm phán lại. Nhà nhập khẩu có thể yêu cầu giảm giá xuất khẩu, chia sẻ chi phí thuế hoặc chuyển sang ký hợp đồng ngắn hạn.

Việt Nam cũng gặp bất lợi về thuế so với Ecuador, Ấn Độ và Indonesia. Chênh lệch thuế có thể ảnh hưởng đáng kể đến các sản phẩm như tôm chân trắng, cá ngừ đóng hộp và nhóm hàng đông lạnh tiêu chuẩn.

Bên cạnh đó, thuế mới còn được cộng thêm vào các nghĩa vụ thuế hiện hành. Quyết định mua hàng vì vậy có thể được cân nhắc theo từng doanh nghiệp và từng mã sản phẩm thay vì chỉ dựa trên quốc gia cung cấp.

Việt Nam đã ban hành quy định cấm nhập khẩu hàng hóa được sản xuất bằng lao động cưỡng bức, dự kiến có hiệu lực từ đầu tháng 9/2026. Đây có thể là cơ sở cho các cuộc trao đổi tiếp theo với phía Mỹ. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, chưa có thông tin chính thức cho thấy mức thuế 12,5% đối với thủy sản Việt Nam sẽ sớm được điều chỉnh.