Duy trì lợi thế bền vững, 'cỗ máy tăng trưởng' cần gì?
Mới đây, hàng loạt tổ chức và Standard Chartered đã nâng dự báo tăng trưởng GDP năm nay, trong đó mức dự báo cao nhất lên tới 9,5%.
Ngân hàng Standard Chartered vừa nâng dự báo tăng trưởng kinh tế nửa cuối năm 2026 lên 10,6% so với cùng kỳ năm trước và giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP năm 2027 ở mức 9,5%. Sự phục hồi mạnh mẽ hơn dự kiến trong lĩnh vực sản xuất, đầu tư và tiêu dùng nội địa là những yếu tố hỗ trợ triển vọng tăng trưởng.
Ông Tim Leelahaphan, Chuyên gia Kinh tế cấp cao phụ trách Việt Nam và Thái Lan, Ngân hàng Standard Chartered cho rằng, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục cho thấy khả năng chống chịu vững vàng, được củng cố bởi nhu cầu nội địa vững chắc, hoạt động sản xuất công nghiệp và thương mại duy trì tích cực. Mặc dù các bất định từ bên ngoài vẫn hiện hữu, các chính sách hỗ trợ tăng trưởng cùng hoạt động kinh tế duy trì tích cực được kỳ vọng sẽ tiếp tục củng cố triển vọng tăng trưởng của Việt Nam đến cuối năm, chuyên gia Standard Chartered nhìn nhận.
Không chỉ Standard Chartered, hàng loạt tổ chức quốc tế cũng vừa nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam. Trong báo cáo công bố ngày 23/9/2026, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nâng dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam lên 7,8% trong năm 2026 và 7,6% trong năm 2027. Việc điều chỉnh được đưa ra sau khi kinh tế Việt Nam đạt mức tăng trưởng 8,2% trong nửa đầu năm 2026, cao hơn đáng kể so với mức 7,5% cùng kỳ năm trước. ADB ghi nhận tăng trưởng được duy trì trên các lĩnh vực kinh tế chủ chốt.
Ngân hàng UOB cũng cập nhật dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 lên 8,5% từ mức 7% đưa ra hồi đầu năm. Theo UOB, động lực tăng trưởng được hỗ trợ bởi đầu tư cơ sở hạ tầng, dòng vốn FDI, nhu cầu liên quan đến trí tuệ nhân tạo (AI) và xu hướng đa dạng hóa chuỗi cung ứng sang ASEAN.
Các chuyên gia UOB nhận định, những yếu tố mang tính cấu trúc này, cùng với quy mô thị trường tiêu dùng ngày càng mở rộng và khả năng kết nối khu vực được tăng cường, đang tạo nền tảng để Việt Nam duy trì tăng trưởng trong những năm tới.
Mặc dù, Việt Nam đang có vị thế vững chắc khi là quốc gia tăng trưởng dẫn đầu khu vực trong nửa đầu năm, song những bất ổn toàn cầu và áp lực lạm phát vẫn là những thách thức cần tiếp tục theo dõi. Bên cạnh đó, việc tăng trưởng dựa nhiều vào vốn cũng là một hạn chế mà theo các chuyên gia cần lưu ý.
“Cỗ máy” tăng trưởng cần gì?
Việt Nam có nhiều lợi thế như ổn định kinh tế vĩ mô, độ mở thương mại cao và năng lực thu hút FDI tốt. Bên cạnh đó, nền tảng sản xuất trong nước đang được mở rộng, đầu tư công còn nhiều dư địa thực hiện. Đáng chú ý, khả năng tiếp cận dịch vụ và tận dụng sự dịch chuyển chuỗi cung ứng của Việt Nam rất tốt, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến chế tạo, điện tử, logistics và các ngành xuất khẩu.
Việt Nam cũng có những lợi thế quan trọng khác bao gồm: Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết, vị trí gần các trung tâm sản xuất lớn, lực lượng lao động năng động và môi trường chính trị - xã hội ổn định. Tuy nhiên, các lợi thế này không tự thân bền vững mãi mãi. Trong 3 đến 5 năm tới, cạnh tranh trong khu vực sẽ mạnh mẽ hơn. Các yêu cầu về quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn xanh, dữ liệu và kỹ năng công nghệ cũng ngày càng cao là những thách thức rất lớn với nền kinh tế.
Bên cạnh đó, “đủ vốn” và “đủ điện” có thể trở thành hai câu chuyện đầu tư lớn của Việt Nam trong nhiều năm tới. Nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, vốn phải được huy động từ nhiều kênh, từ ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu và vốn tư nhân; đồng thời nguồn lực lớn cũng phải được dành cho phát triển nguồn điện, lưới truyền tải và hạ tầng năng lượng. Tuy nhiên, nếu chúng ta dựa chủ yếu vào tín dụng thì luôn có rủi ro về lạm phát và rủi ro về chất lượng tài sản.
Theo ông Bùi Minh Giáp, chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, nếu tín dụng tập trung vào những lĩnh vực có tính đầu cơ cao, sẽ phát sinh rủi ro cho nền kinh tế. Một hạn chế nữa của thị trường tín dụng Việt Nam khi vốn huy động ngắn hạn để cho vay các dự án dài hạn, điều này sẽ gây rủi ro rất lớn về kỳ hạn, cũng như rủi ro về lãi suất.
ÔNG Bùi Minh Giáp Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam
“Nếu tình trạng này kéo dài thì rủi ro sẽ rất lớn, đồng thời tạo áp lực đối với Ngân hàng Nhà nước trong điều hành chính sách tiền tệ”, chuyên gia ADB nhận định.
Vì vậy, việc cân bằng được giữa tăng trưởng cao và kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô rất quan trọng. Giải pháp cần làm là phải mở rộng và đa dạng hóa các công cụ tài chính, để các công cụ và thị trường tài chính phát triển sâu hơn. Chẳng hạn, nền kinh tế không nên chỉ dựa vào tín dụng ngân hàng mà cần dựa vào các sản phẩm như trái phiếu và các sản phẩm tài chính khác.
Duy trì tăng trưởng cao bằng cách nào?
So với các nền kinh tế trong khu vực, Việt Nam còn rất nhiều dư địa tăng trưởng. Trước hết là, dư địa nâng cấp sản xuất công nghiệp. Việt Nam đã tham gia khá sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng còn nhiều dư địa để cải thiện các khâu có giá trị cao như: Thiết kế, R&D, logistics, dịch vụ số, quản trị chuỗi cung ứng và xây dựng thương hiệu.
Thứ hai là, thị trường trong nước còn có thế tăng cầu. Tầng lớp trung lưu đang gia tăng khá nhanh, tiêu dùng số phát triển mạnh, trong khi nhu cầu đối với các dịch vụ hiện đại như y tế, giáo dục, tài chính, logistics và thương mại điện tử ngày càng tăng cao.
Thứ ba là, về hạ tầng và kết nối vùng, chuyển đổi xanh và kinh tế số. Đầu tư công đang được triển khai khá hiệu quả. Việt Nam hiện nay phát triển tốt về năng lượng sạch, hạ tầng số, dữ liệu và kỹ năng lao động phục vụ chuyển đổi xanh là một lợi thế cạnh tranh mới của quốc gia.
Tuy nhiên, về thách thức, chuyên gia Bùi Minh Giáp cho rằng ,Việt Nam vẫn chủ yếu mạnh ở khâu sản xuất, lắp ráp và xuất khẩu, trong khi những khâu tạo ra giá trị cao hơn còn hạn chế. Để phát triển mạnh hơn, doanh nghiệp phải nâng cấp nhanh hơn về công nghệ, quản trị, kỹ năng và tiêu chuẩn để không bỏ lỡ các cơ hội. “Nếu Việt Nam không nắm bắt cơ hội thì sẽ có những nơi khác nắm bắt”, ông Giáp nhấn mạnh.
Để duy trì lợi thế bền vững và mức tăng trưởng cao, chuyên gia ADB cho rằng, Việt Nam cần chuyển dịch nhanh hơn từ mô hình tăng trưởng dựa vào đầu vào (vốn, lao động, FDI) sang mô hình dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo, kỹ năng lao động, vai trò của doanh nghiệp trong nước và giá trị gia tăng nội địa. Việt Nam có thể tăng trưởng cao trong ngắn hạn nhờ FDI, xuất khẩu hay đầu tư công, nhưng để duy trì trong nhiều năm và hướng tới mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045, nhất thiết phải nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế thông qua đổi mới sáng tạo.
Để làm được điều này, chuyên gia cho rằng cần cải cách thể chế mạnh mẽ hơn để môi trường kinh doanh thông thoáng, giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ và phân bổ nguồn lực hiệu quả.
Trong đó, Việt Nam cần tập trong vào ba ưu tiên. Thứ nhất là, cải thiện chất lượng thực thi chính sách. Việt Nam đã có nhiều định hướng tốt nhưng cần cải cách thủ tục nhanh hơn, minh bạch hơn và trách nhiệm giải trình rõ ràng hơn.
Thứ hai là, nâng cao hiệu quả đầu tư công. Không chỉ là giải ngân nhanh mà phải tập trung vào các dự án chất lượng, có tính lan tỏa, giúp giảm chi phí logistics và tăng cường an ninh năng lượng, kết nối vùng.
Và cuối cùng là, phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong nước. Doanh nghiệp cần tiếp cận tốt hơn các nguồn vốn dài hạn, đất đai, dữ liệu và công nghệ. Doanh nghiệp phải hiểu được thị trường cần gì, tiêu chuẩn ra sao trước khi bắt đầu sản xuất. Tăng trưởng cao chỉ có thể bền vững khi dựa trên trụ cột năng suất, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng nội địa cao hơn.