VRC dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 đạt 8,5%

Trang Mai 20:48 | 23/09/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Sản xuất công nghiệp, đầu tư công, dòng vốn FDI và xuất khẩu đang tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2026. Tuy nhiên, triển vọng những tháng cuối năm vẫn phụ thuộc vào khả năng chuyển vốn, đơn hàng thành sản lượng, thu nhập và dòng tiền, trong bối cảnh sức mua phục hồi chưa đồng đều, chi phí đầu vào gia tăng và rủi ro từ thương mại quốc tế.

Công nghiệp, đầu tư và xuất khẩu tiếp tục là động lực chính

Theo cập nhật triển vọng kinh tế Việt Nam 2026 của Nhóm nghiên cứu Vĩ mô VRC - Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, tăng trưởng GDP cả năm dự báo đạt khoảng 8,5%, với điều kiện hoạt động sản xuất, xây dựng tiếp tục mở rộng và các nguồn lực đầu tư được chuyển hóa hiệu quả thành sản lượng, thu nhập và dòng tiền trong nền kinh tế. 

Theo đơn vị này, các dữ liệu kinh tế trong 8 tháng đầu năm cho thấy khu vực sản xuất đang đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng. GDP thực 6 tháng tăng 8,18%, sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 11,9%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 12,5%. Vốn thực hiện từ ngân sách nhà nước đạt 546,8 nghìn tỷ đồng, tăng 18,5%, trong khi FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, tăng 12%. Xuất khẩu hàng hóa đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ. 

Đà tăng trưởng công nghiệp được đánh giá có nền tảng tương đối rộng khi nhiều ngành cùng mở rộng. Trong 8 tháng, sản xuất kim loại tăng 22,4%, xe có động cơ tăng 15,9%, thiết bị điện tăng 14,6%, điện tử và máy vi tính tăng 13,9%, chế biến thực phẩm tăng 11,6%. Đây là các nhóm ngành vừa phục vụ xuất khẩu, vừa gắn với nhu cầu đầu tư và tiêu dùng trong nước. 

Nguồn: Nhóm nghiên cứu Vĩ mô VRC - Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

Tuy nhiên, sự phục hồi vẫn có sự phân hóa giữa các lĩnh vực. Trong khi sản xuất tăng mạnh, sức mua nội địa chưa phục hồi tương ứng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng đạt 5.235,5 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% theo giá hiện hành, nhưng sau khi loại trừ yếu tố giá chỉ tăng 7,6%. Khoảng cách này cho thấy một phần tăng trưởng doanh thu đến từ yếu tố giá thay vì hoàn toàn từ sự gia tăng nhu cầu thực tế. 

FDI tiếp tục tạo lực đẩy

Dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục là một trong những điểm sáng của nền kinh tế. Trong 8 tháng đầu năm, FDI thực hiện đạt 17,25 tỷ USD, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 82,6%, tương đương 14,24 tỷ USD. Dòng vốn này tạo thêm nhu cầu về nhà xưởng, thiết bị, logistics, năng lượng và các dịch vụ phục vụ sản xuất. 

Bên cạnh đó, vốn FDI đăng ký đạt 40,63 tỷ USD, tăng 55,4%, cho thấy nguồn dự án tiềm năng tiếp tục mở rộng. Tuy nhiên, vốn đăng ký mới phản ánh cam kết đầu tư, chưa đồng nghĩa với việc toàn bộ dự án sẽ nhanh chóng chuyển thành hoạt động sản xuất trong ngắn hạn. Hiệu quả lan tỏa của FDI vẫn phụ thuộc vào tiến độ triển khai nhà máy, khả năng kết nối hạ tầng và mức độ tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng. 

Ở chiều xuất khẩu, khu vực FDI tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn khi đóng góp 80,1% kim ngạch xuất khẩu 8 tháng, trong khi xuất khẩu của khu vực trong nước tăng 7,4%, thấp hơn nhiều so với mức tăng 26,9% của khu vực FDI. Điều này cho thấy cơ hội từ chuỗi sản xuất toàn cầu vẫn chưa lan tỏa đồng đều tới doanh nghiệp nội địa.

Bên cạnh sản xuất và FDI, đầu tư công tiếp tục được xem là yếu tố hỗ trợ quan trọng trong giai đoạn cuối năm. Theo số liệu cập nhật, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước trong 8 tháng đạt 546,8 nghìn tỷ đồng, tương đương 50,5% kế hoạch năm. Giải ngân vốn đầu tư công đến ngày 3/9 đạt 513,3 nghìn tỷ đồng, bằng 50,2% kế hoạch Thủ tướng giao. 

Tuy nhiên, áp lực giải ngân trong những tháng còn lại vẫn rất lớn. Phần vốn chưa thực hiện còn khoảng 509,3 nghìn tỷ đồng, tương đương mức bình quân gần 130 nghìn tỷ đồng mỗi tháng trong 4 tháng cuối năm, cao hơn đáng kể so với tiến độ bình quân của 8 tháng đầu năm.

Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu, tác động của đầu tư công trong ngắn hạn chủ yếu đến từ khối lượng thi công, nhu cầu vật liệu xây dựng, vận tải và lao động. Tuy nhiên, hiệu quả tăng trưởng phụ thuộc vào khả năng tháo gỡ các điểm nghẽn như mặt bằng, vật liệu, hồ sơ thanh toán và tiến độ thực hiện dự án.

Áp lực lạm phát hiện hữu

Dù triển vọng tăng trưởng tích cực, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều rủi ro trong những tháng cuối năm. Một trong những yếu tố đáng chú ý là diễn biến giá năng lượng. Giá dầu Brent đã tăng trở lại trên 100 USD/thùng trong tháng 9/2026, sau khi từng giảm về khoảng 85 USD/thùng vào tháng 6. Diễn biến này tạo thêm sức ép lên chi phí vận tải, sản xuất và lạm phát.

Áp lực giá cũng đang thể hiện rõ hơn qua chỉ số CPI. CPI tháng 8 tăng 4,89% so với cùng kỳ, trong khi CPI bình quân 8 tháng tăng 4,45%, tiến sát mục tiêu khoảng 4,5% của cả năm. Các nhóm đóng góp lớn vào lạm phát gồm hàng ăn và dịch vụ ăn uống, nhà ở cùng các chi phí liên quan, giao thông. 

Bên cạnh đó, chi phí vốn có xu hướng gia tăng cũng tạo thêm áp lực cho doanh nghiệp. Một số ngân hàng trong mẫu theo dõi thị trường ghi nhận lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng bình quân đạt 8,63%/năm, tăng 2,82 điểm phần trăm từ đầu năm. Chi phí vốn cao hơn có thể ảnh hưởng tới quyết định đầu tư, nhu cầu vay vốn và biên lợi nhuận của doanh nghiệp. 

Tăng trưởng cuối năm phụ thuộc vào khả năng chuyển động lực thành dòng tiền

Theo kịch bản trung tâm, nhóm nghiên cứu VRC nhận định GDP cả năm 2026 có thể tăng khoảng 8,5%, trong khoảng kịch bản có điều kiện từ 7,8-8,9%. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn hay tốc độ mở rộng sản xuất mà còn nằm ở khả năng chuyển hóa các nguồn lực thành kết quả kinh doanh thực tế.

 Nguồn: Nhóm nghiên cứu Vĩ mô VRC - Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

Các yếu tố hỗ trợ chính trong thời gian tới gồm công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì tốc độ cao; đầu tư công tạo thêm nhu cầu xây dựng; FDI bổ sung năng lực sản xuất; du lịch và vận tải hỗ trợ khu vực dịch vụ; cùng với các biện pháp cải thiện dòng tiền như hoàn thuế, thanh toán đầu tư công và tháo gỡ thủ tục dự án. 

Tuy vậy, triển vọng cuối năm vẫn cần được theo dõi thông qua các chỉ báo thực chất như đơn hàng, sản lượng, dòng tiền, tồn kho và khả năng thu hồi công nợ. Trong bối cảnh chi phí đầu vào và chi phí vốn còn biến động, tăng trưởng doanh thu chưa đồng nghĩa với cải thiện lợi nhuận nếu doanh nghiệp không kiểm soát tốt dòng tiền và biên lợi nhuận.