Hàng tiêu dùng Việt cần làm gì để vượt rào cản, bứt phá thị trường toàn cầu?

Tấn Hiệp 18:16 | 03/09/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Hàng tiêu dùng Việt đang đối mặt sức ép ngày càng lớn, khi các thị trường quốc tế liên tục nâng yêu cầu về tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc, quy tắc xuất xứ và logistics. Vì vậy, doanh nghiệp được khuyến nghị chủ động chuyển đổi sản xuất, nâng giá trị sản phẩm, tăng khả năng thích ứng, tận dụng tốt hơn lợi thế từ Hiệp định thương mại tự do (FTA).

Chiều 3/9, tại TP HCM, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP HCM (ITPC) phối hợp với Vụ Phát triển thị trường nước ngoài (Bộ Công Thương) tổ chức hội thảo “Hàng tiêu dùng Việt thích ứng và bứt phá thị trường toàn cầu”.

Sự kiện nằm trong khuôn khổ Diễn đàn Xuất khẩu 2026 và chuỗi chương trình “Viet Nam International Sourcing 2026”, tập trung trao đổi về những thay đổi của thị trường quốc tế, các yêu cầu kỹ thuật mới, bài toán logistics và khả năng thích ứng của doanh nghiệp Việt.

Phát biểu khai mạc, ông Đỗ Quốc Hưng, Quyền Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, Bộ Công Thương, cho rằng kinh tế thế giới đang trải qua quá trình tái cơ cấu mạnh mẽ khi chuỗi sản xuất dịch chuyển, chính sách thuế quan thay đổi và các quy định kỹ thuật ngày càng chặt chẽ.

Theo ông Hưng, Việt Nam đang có lợi thế lớn với 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương. Tuy nhiên, lợi thế về thuế quan sẽ khó chuyển hóa thành giá trị gia tăng nếu doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào mô hình gia công.

 Ông Đỗ Quốc Hưng cho rằng, Việt Nam đang có lợi thế lớn với 17 hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương và đa phương.

Theo đại diện Bộ Công Thương, doanh nghiệp cần tái cấu trúc quy trình vận hành, nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, phát triển bền vững và chủ động nắm bắt thị hiếu người tiêu dùng. Đây cũng là điều kiện để hàng Việt tiếp cận sâu hơn các kênh phân phối quốc tế. 

Từ góc độ TP HCM, ông Trần Phú Lữ, Phó Giám đốc ITPC, cho biết nhóm hàng tiêu dùng phi thực phẩm (non-food) giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu và đóng góp vào thặng dư thương mại của Việt Nam.

 Ông Trần Phú Lữ, Phó Giám đốc ITPC.

Ông Phú Lữ cũng thông tin, năm 2025, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đạt khoảng 475 tỷ USD, trong đó nhóm công nghệ, điện tử đạt gần 165 tỷ USD. Bước sang năm 2026, đà tăng tiếp tục được duy trì. Trong 7 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 319,53 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ năm trước. Riêng TP HCM hiện đóng góp khoảng 25% GDP và 21% kim ngạch xuất khẩu của cả nước. 

Ông Lữ cho rằng những con số trên cho thấy dư địa tăng trưởng của hoạt động ngoại thương vẫn lớn, song đi cùng với đó là yêu cầu ngày càng cao đối với năng lực sản xuất và cạnh tranh của doanh nghiệp.

Theo định hướng chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu bình quân 10-11% mỗi năm và nâng tỷ trọng xuất khẩu sang các thị trường thuộc khối FTA lên trên 75% vào năm 2030.

“Để hỗ trợ mục tiêu này, TP HCM đang định hướng phát triển công nghiệp theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đồng thời đầu tư hạ tầng logistics liên vùng, phát triển Trung tâm tài chính quốc tế, Khu thương mại tự do và mạng lưới cảng cạn ICD nhằm giảm chi phí lưu thông hàng hóa”, Phó Giám đốc ITPC thông tin.

Không chỉ cạnh tranh về giá và chất lượng, doanh nghiệp Việt ngày càng phải đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, lao động, nguồn nguyên liệu và tính minh bạch trong chuỗi cung ứng.

  Các đại biểu tham hội thảo “Hàng tiêu dùng Việt thích ứng và bứt phá thị trường toàn cầu”.

Tại hội thảo, bà Võ Nguyên - Quản lý quan hệ công chúng Tập đoàn H&M Việt Nam, cho biết các tập đoàn bán lẻ quốc tế đang đẩy nhanh quá trình thực hiện các cam kết phát triển bền vững.

Đại diện doanh nghiệp này cũng chia sẻ, lộ trình của các chuỗi bán lẻ quốc tế trong việc đặt mục tiêu đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2040 và sử dụng 100% nguyên liệu tuần hoàn hoặc có nguồn gốc bền vững vào năm 2030.  

Bà Nguyên nhấn mạnh: “Với đặc thù không sở hữu xưởng may trực tiếp mà vận hành thông qua các đối tác cung ứng độc lập, tập đoàn áp dụng tiêu chuẩn thẩm định khắt khe dựa trên tính minh bạch cơ sở dữ liệu nhà máy, cam kết đạo đức kinh doanh, bảo đảm quyền lao động và các tiêu chuẩn về môi trường là những điều kiện tiên quyết để hợp tác lâu dài".

Ở góc độ doanh nghiệp, bà Trần Hoàng Phú Xuân, Tổng Giám đốc Faslink Việt Nam, cho rằng việc chuyển đổi sang các mô hình sản xuất xanh đang trở thành một yêu cầu thực tế thay vì chỉ là xu hướng. Faslink phát triển mô hình cung ứng trọn gói ODM, đồng thời nghiên cứu các loại nguyên liệu sinh thái như sợi bã cà phê, sợi sen và công nghệ dệt may tuần hoàn RENU.

Theo bà Xuân, công nghệ RENU có thể giúp giảm 59% lượng phát thải CO2 và 47% lượng nước tiêu thụ. “Chủ động từ nguyên liệu, sợi, dệt đến sản xuất giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và các yêu cầu về quy tắc xuất xứ”, bà Xuân cho biết.

Doanh nghiệp cũng đang đáp ứng các bộ tiêu chuẩn, chứng chỉ quốc tế như GRS, Higg Index, OEKO-TEX và WRAP.

 Quang cảnh buổi hội thảo.

Bên cạnh tiêu chuẩn sản phẩm, chi phí và thời gian logistics cũng đang tạo sức ép đáng kể lên khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.

Ông Kevin Geneuglijk, Giám đốc phát triển kinh doanh Berkman Forwarding BV (Hà Lan) cũng đề cập đến những tác động từ biến động cước vận tải biển, thời gian vận chuyển kéo dài và các yêu cầu liên quan đến Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của châu Âu. 

Theo ông Geneuglijk, doanh nghiệp xuất khẩu cần nâng khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng thay vì phụ thuộc vào một phương thức vận tải duy nhất. Một trong những hướng được khuyến nghị là kết hợp vận tải đa phương thức giữa đường biển, đường sắt và đường bộ; đồng thời tối ưu hóa kho ngoại quan và số hóa việc theo dõi hành trình hàng hóa.

Việc tích hợp hệ thống giám sát 24/7 với công cụ đo lường dấu chân carbon cũng được xem là yếu tố ngày càng quan trọngkhi các thị trường nhập khẩu tăng cường yêu cầu về môi trường.

Ông Ang Yuit, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Singapore (ASME), cũng  chia sẻ về việc nâng cao năng lực cạnh tranh trước sự chuyển dịch cung ứng khu vực.

Trong khi đó, ông Võ Thanh Tòng, đại diện Amazon Global Selling Việt Nam, đề cập đến dư địa của thương mại điện tử xuyên biên giới trong việc đưa sản phẩm Việt tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng quốc tế.

Các tham luận cho thấy bài toán xuất khẩu hiện không còn dừng ở việc sản xuất được sản phẩm và tìm được thị trường. Doanh nghiệp phải đồng thời giải quyết nhiều vấn đề từ nguồn nguyên liệu, quy tắc xuất xứ, tiêu chuẩn môi trường, dữ liệu chuỗi cung ứng đến vận chuyển và phân phối.

Trong bối cảnh các thị trường lớn ngày càng nâng chuẩn, khả năng thích ứng và làm chủ chuỗi giá trị sẽ quyết định mức độ cạnh tranh của hàng tiêu dùng Việt trên thị trường quốc tế.