Không chủ quan với áp lực lạm phát cuối năm
CPI bình quân tăng 4,38%, trong bối cảnh giá dầu, chi phí vận tải và nhiều loại nguyên liệu trên thị trường thế giới tăng do tác động của xung đột địa chính trị. Dù áp lực lạm phát chưa ở mức đáng lo ngại, việc phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và điều hành giá vẫn là yêu cầu quan trọng để bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô trong những tháng cuối năm.
Lạm phát vẫn trong tầm kiểm soát
Cục Thống kê cho biết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2026 giảm 0,39% so với tháng trước, chủ yếu do giá xăng dầu giảm theo giá nhiên liệu thế giới. So với tháng 12/2025, CPI tháng 6 tăng 3,21% và tăng 4,69% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân quý II/2026 tăng 5,25% so với quý II/2025. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 4,12%.
Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương cho biết, 6 tháng đầu năm 2026, trước bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động và áp lực lạm phát gia tăng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
“Mặc dù chịu nhiều tác động từ bên ngoài, nhưng mặt bằng giá cơ bản được kiểm soát tốt. Bình quân 6 tháng đầu năm, CPI tăng 4,38% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này phản ánh hiệu quả của công tác điều hành giá, sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa của Chính phủ”, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương nhấn mạnh.
Mục tiêu lạm phát đang được kiểm soát nhưng Cục Thống kê vẫn chỉ ra, diễn biến lạm phát trong 6 tháng đầu năm chủ yếu chịu tác động của nhiều yếu tố đan xen. Giá một số nhóm hàng như: nhà ở, điện sinh hoạt, vật liệu xây dựng và dịch vụ tiêu dùng tăng do chi phí đầu vào tăng và nhu cầu tiêu dùng phục hồi.
Hàng loạt chỉ báo chi phí cũng đang phát đi tín hiệu áp lực lạm phát 6 tháng cuối năm. Chỉ số giá sản xuất (PPI) của khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,07%; khu vực công nghiệp tăng 4,18%; khu vực dịch vụ tăng 4,17%. Trong khi đó, chỉ số giá nguyên vật liệu dùng cho sản xuất của toàn nền kinh tế tăng tới 5,4%; riêng khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,26%. Đây là những tín hiệu cho thấy áp lực chi phí đầu vào đang gia tăng và sẽ từng bước truyền dẫn sang giá bán sản phẩm trong thời gian tới.
Bên cạnh đó, dư nợ tín dụng đến cuối tháng 6 tăng 16,71% so với cùng kỳ năm trước. Việc mở rộng tín dụng là cần thiết để hỗ trợ phục hồi tăng trưởng, song nếu dòng vốn không được phân bổ hiệu quả vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, nguy cơ gia tăng áp lực lạm phát và rủi ro tài sản trong trung hạn cần được theo dõi chặt chẽ.
Một yếu tố khác cũng cần tính đến là giá năng lượng thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều biến động khi xung đột tại Trung Đông chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Giá dầu, chi phí logistics và tỷ giá quốc tế có thể tiếp tục tạo áp lực lên chi phí sản xuất trong nước.
Theo các chuyên gia kinh tế nhận định, lạm phát hiện nay chưa phải là rủi ro hiện hữu, nhưng các điều kiện hình thành lạm phát đang dần tích tụ. Nếu thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa, tiền tệ và điều hành giá, áp lực lạm phát trong những tháng cuối năm sẽ gia tăng đáng kể.
Áp lực đối với những tháng cuối năm
Bà Nguyễn Thu Oanh, Trưởng ban Thống kê Giá và Dịch vụ, Cục Thống kê cho rằng, đối với 6 tháng cuối năm, việc kiểm soát lạm phát sẽ tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Trước hết, diễn biến giá năng lượng thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro do tình hình địa chính trị còn phức tạp. Giá xăng dầu tuy chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 4,5% trong rổ CPI nhưng lại có tác động lan tỏa rất lớn đến chi phí vận tải, sản xuất, logistics và giá của nhiều nhóm hàng hóa, dịch vụ khác.
Tiếp đến giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất vẫn có xu hướng ở mức cao. Điều này được phản ánh khá rõ qua chỉ số giá sản xuất và chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Nếu chi phí đầu vào tiếp tục tăng trong thời gian dài thì áp lực chuyển sang giá tiêu dùng sẽ lớn hơn.
Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu dùng, đầu tư và du lịch thường tăng cao trong những tháng cuối năm, nhất là vào dịp lễ, Tết. Đây là yếu tố hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời cũng tạo sức ép nhất định đối với mặt bằng giá nếu nguồn cung không được chuẩn bị đầy đủ.
Cùng với đó, việc thực hiện lộ trình điều chỉnh giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý như giáo dục, y tế và một số dịch vụ công cần tiếp tục được tính toán thận trọng, bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu thực hiện cơ chế thị trường và mục tiêu kiểm soát lạm phát.
Bên cạnh những áp lực đó, bà Nguyễn Thu Oanh cho rằng, cũng nhìn thấy nhiều yếu tố thuận lợi. Đó là nguồn cung hàng hóa trong nước hiện nay tương đối dồi dào; sản xuất nông nghiệp ổn định; hệ thống phân phối ngày càng phát triển; công tác điều hành giá của Chính phủ ngày càng chủ động và linh hoạt. Đây là những yếu tố quan trọng giúp hạn chế nguy cơ xảy ra các cú sốc về giá.
Để kiểm soát lạm phát những tháng cuối năm, tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2026 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương mới đây, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn đề nghị các bộ, ngành liên quan và các địa phương, doanh nghiệp nhà nước tăng cường quản lý giá cả, chủ động các giải pháp điều hành giá điện, xăng dầu, dịch vụ y tế, giáo dục để kiểm soát lạm phát theo mục tiêu. Xử lý nghiêm các hành vi đầu cơ, thao túng, trục lợi và tăng giá bất hợp lý, nhất là trong bối cảnh giá xăng dầu trong nước đã giảm...