Mục tiêu 100.000 - 500.000 tấn hydrogen xanh năm 2030 chờ 'cú hích' chính sách
Chưa có dự án hydrogen xanh quy mô thương mại
Tại Diễn đàn Năng lượng Hydrogen và Tương lai công nghiệp không phát thải diễn ra ngày 29/7, các chuyên gia nhận định Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển hydrogen xanh nhờ tiềm năng lớn về điện gió, điện mặt trời và các nguồn năng lượng tái tạo.
Toàn cảnh diễn đàn. Ảnh: M.T.
Theo Quyết định số 165/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam hướng tới xây dựng hệ sinh thái hydrogen đồng bộ từ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển, phân phối đến sử dụng, từng bước tham gia sâu vào chuỗi giá trị hydrogen khu vực và toàn cầu.
Mục tiêu đến năm 2030 là sản xuất từ 100.000 đến 500.000 tấn hydrogen phát thải thấp mỗi năm. Đến năm 2050, sản lượng dự kiến đạt khoảng 10-20 triệu tấn mỗi năm, góp phần thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.
Theo TS. Mai Duy Thiện, Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam, hydrogen xanh có khả năng thay thế nhiên liệu hóa thạch trong nhiều lĩnh vực khó giảm phát thải như công nghiệp nặng, giao thông vận tải, sản xuất điện và hóa chất.
Không chỉ là một nguồn năng lượng sạch, hydrogen còn có thể mở ra một hệ sinh thái công nghiệp mới, thúc đẩy đổi mới công nghệ, thu hút đầu tư và tạo động lực tăng trưởng dài hạn.
Tuy nhiên, ngành hydrogen tại Việt Nam hiện vẫn ở giai đoạn khởi đầu. Mỗi năm, Việt Nam sản xuất khoảng 500.000 tấn hydrogen, nhưng chủ yếu là hydrogen xám và hydrogen nâu có nguồn gốc từ nhiên liệu hóa thạch, phục vụ sản xuất phân đạm và lọc hóa dầu.
Đến nay, Việt Nam chưa có dự án hydrogen xanh quy mô thương mại. Một số dự án đã được đề xuất tại các địa phương nhưng phần lớn mới ở giai đoạn nghiên cứu, chuẩn bị đầu tư hoặc thí điểm.
Việc sử dụng hydrogen trong nền kinh tế cũng còn hạn chế. Ngoài các ngành truyền thống như phân bón và lọc hóa dầu, hydrogen mới được ứng dụng ở quy mô nhỏ trong thép, điện tử, chế biến thực phẩm và nghiên cứu nhiên liệu mới.
Theo PGS.TS. Phạm Hoàng Lương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam, giảng viên cao cấp Đại học Bách khoa Hà Nội, Việt Nam cần tháo gỡ ba điểm nghẽn lớn gồm hạ tầng truyền tải và kết nối, năng lực công nghệ và khung pháp lý.
Phát triển hydrogen xanh đòi hỏi nguồn điện tái tạo đủ lớn, hệ thống lưới điện đồng bộ, kho lưu trữ và hạ tầng vận chuyển đáp ứng yêu cầu sản xuất, phân phối trên quy mô lớn.
Trong khi đó, Việt Nam vẫn phụ thuộc đáng kể vào thiết bị và công nghệ nhập khẩu, còn chi phí đầu tư cho hệ thống điện phân, lưu trữ và vận chuyển hydrogen ở mức cao.
Giao thông là lĩnh vực ứng dụng trọng điểm
Trao đổi với phóng viên bên lề diễn đàn, TS. Nguyễn Hữu Lương, Viện Dầu khí Việt Nam,chuyên gia kinh tế cho rằng giao thông vận tải là một trong những lĩnh vực cần được ưu tiên khi phát triển hydrogen.
TS. Nguyễn Hữu Lương, Viện Dầu khí Việt Nam, chuyên gia kinh tế. Ảnh: M.T.
Theo ông, giao thông thuộc nhóm ba lĩnh vực phát thải lớn nhất thế giới. Vì vậy, ứng dụng hydrogen trong giao thông có thể đóng vai trò quan trọng trong quá trình giảm phát thải và chuyển đổi năng lượng.
Để phát triển hydrogen trong lĩnh vực này, Việt Nam phải xây dựng đồng bộ toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất, vận chuyển, tồn trữ, phân phối đến người tiêu dùng cuối cùng.
“Hydrogen không thể chỉ phát triển ở một khâu. Nếu sản xuất ra nhưng chưa có hệ thống vận chuyển, trạm nạp và phương tiện sử dụng thì thị trường rất khó hình thành”, TS. Nguyễn Hữu Lương cho biết.
Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, ông cho rằng Việt Nam cần lựa chọn những phân khúc mà hydrogen có lợi thế hơn so với các giải pháp giảm phát thải khác.
Đối với giao thông đường bộ, hai nhóm phương tiện phù hợp là xe buýt liên tỉnh chạy đường dài và xe tải trọng lớn vận chuyển đường dài. Đây là những phân khúc có thể phát huy lợi thế của hydrogen về quãng đường hoạt động, thời gian tiếp nhiên liệu và khả năng chuyên chở.
Trong khi đó, đối với xe con và taxi, hydrogen sẽ phải cạnh tranh mạnh với xe điện sử dụng pin, vốn đang phát triển nhanh và có hạ tầng ngày càng phổ biến.
Bên cạnh giao thông đường bộ, hydrogen còn có thể được sử dụng để sản xuất nhiên liệu tổng hợp cho hàng không và hàng hải. Đây là những lĩnh vực khó điện hóa hoàn toàn và có nhu cầu lớn về nhiên liệu phát thải thấp.
Cần hỗ trợ các dự án trong giai đoạn đầu
Đánh giá về mục tiêu sản xuất 100.000-500.000 tấn hydrogen phát thải thấp vào năm 2030, TS. Nguyễn Hữu Lương cho rằng Việt Nam có đủ tiềm năng để đáp ứng.
Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất hiện nay là chi phí sản xuất hydrogen xanh vẫn cao hơn các loại nhiên liệu truyền thống. Vì vậy, Nhà nước cần có cơ chế hỗ trợ tài chính, ưu đãi đầu tư và chia sẻ rủi ro với các dự án tiên phong.
“Trong giai đoạn đầu, việc sản xuất và sử dụng hydrogen có thể chưa mang lại hiệu quả kinh tế ngay. Nhưng về dài hạn, khi công nghệ phát triển và yêu cầu giảm phát thải tăng lên, hiệu quả sẽ rõ ràng hơn”, ông Lương nhận định.
Ngoài chi phí sản xuất, hạ tầng cũng là một thách thức lớn. Tương tự phương tiện sử dụng xăng dầu cần mạng lưới trạm xăng, phương tiện chạy bằng hydrogen cũng cần hệ thống trạm nạp chuyên dụng.
Nếu hạ tầng không được đầu tư đồng bộ, người tiêu dùng khó lựa chọn phương tiện hydrogen, trong khi doanh nghiệp cũng không có động lực mở rộng sản xuất.
Theo TS. Nguyễn Hữu Lương, việc thu hút các tập đoàn lớn tham gia phát triển hydrogen là chủ trương cần thiết bởi những doanh nghiệp này có khả năng đầu tư đồng bộ nhiều khâu trong chuỗi giá trị.
Dù vậy, doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn có cơ hội tham gia vào các mắt xích cụ thể như vận chuyển, phân phối, cung cấp thiết bị, sản xuất linh kiện, tư vấn kỹ thuật, bảo trì và các dịch vụ hỗ trợ.
“Các tập đoàn lớn có thể tham gia toàn bộ chuỗi giá trị. Với những doanh nghiệp có nguồn lực hạn chế hơn, họ có thể lựa chọn một công đoạn phù hợp như vận chuyển hoặc phân phối hydrogen”, ông Lương nói.
Một trong những vấn đề lớn nhất hiện nay là Việt Nam chưa hình thành thị trường hydrogen đúng nghĩa. Theo TS. Nguyễn Hữu Lương, chính sách không chỉ cần hỗ trợ khâu sản xuất mà còn phải kích thích nhu cầu sử dụng. Nếu doanh nghiệp sản xuất hydrogen nhưng không có người mua, các dự án sẽ khó tồn tại.
“Hydrogen sản xuất ra mà không có người tiêu thụ thì không thể phát triển được. Do đó, Chính phủ cần quan tâm cả chính sách hỗ trợ đầu tư lẫn chính sách tạo thị trường”, ông nhấn mạnh.
Nhà nước có thể nghiên cứu cơ chế khuyến khích sử dụng hydrogen trong giao thông công cộng, sản xuất điện, công nghiệp nặng, hóa chất, hàng không và hàng hải.
Việc triển khai các dự án thí điểm, tuyến vận tải sử dụng nhiên liệu sạch hoặc khu công nghiệp ứng dụng hydrogen có thể tạo ra nhu cầu ban đầu, từ đó từng bước hình thành thị trường.
Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương, gắn phát triển hydrogen với quy hoạch điện, năng lượng, giao thông, công nghiệp, hóa chất, hàng không và hàng hải.
Hoàn thiện tiêu chuẩn để tiếp cận vốn xanh
Bên cạnh công nghệ, hệ thống tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia được xem là nền tảng quan trọng để phát triển thị trường hydrogen.
Theo ông Đặng Hải Anh, TCVN và QCVN không chỉ là công cụ quản lý mà còn là nền tảng khoa học - công nghệ giúp Việt Nam từng bước làm chủ toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất, lưu trữ, vận chuyển đến sử dụng.
Hệ thống tiêu chuẩn đầy đủ sẽ giúp bảo đảm an toàn, kiểm soát chất lượng, đánh giá mức phát thải và đưa các dự án hydrogen của Việt Nam tiệm cận thông lệ quốc tế.
Bộ Công Thương đã phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành và xây dựng lộ trình phát triển TCVN, QCVN cho lĩnh vực hydrogen đến năm 2030.
Tuy nhiên, số lượng tiêu chuẩn chuyên ngành hiện còn hạn chế. Trong thời gian tới, Việt Nam cần xây dựng các tiêu chuẩn về công nghệ điện phân, chất lượng hydrogen, thiết bị lưu trữ, hệ thống đường ống, phương tiện vận chuyển, trạm nạp, an toàn cháy nổ và quy trình vận hành.
Theo TS. Nguyễn Hữu Lương, việc hoàn thiện tiêu chuẩn cũng là điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận tài chính xanh.
“Trước khi nói đến nguồn vốn xanh, Việt Nam cần quy định rõ thế nào là hydrogen xanh, hydrogen sạch hay hydrogen phát thải thấp, chẳng hạn lượng CO₂ được phép phát thải trên mỗi kg hydrogen sản xuất ra”, ông nói.
Khi có tiêu chuẩn và phương pháp chứng nhận rõ ràng, tổ chức tài chính mới có cơ sở xác định dự án có đáp ứng tiêu chí xanh hay không.
Ngoài việc hình thành nguồn vốn trong nước, Việt Nam cần tận dụng các quỹ tín dụng xanh và nguồn tài chính khí hậu quốc tế. Chính phủ đóng vai trò xây dựng hành lang pháp lý, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí kỹ thuật và môi trường để đủ điều kiện tiếp cận thị trường vốn xanh toàn cầu.
Các chuyên gia nhận định, với tiềm năng năng lượng tái tạo lớn, Việt Nam có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị hydrogen toàn cầu. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành hiện thực, cần sớm hoàn thiện chính sách, phát triển hạ tầng, làm chủ công nghệ, xây dựng tiêu chuẩn và tạo thị trường tiêu thụ.
Khi những điểm nghẽn này được tháo gỡ, hydrogen xanh có thể trở thành một động lực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và hiện thực hóa mục tiêu phát triển xanh, bền vững.