Chịu áp lực từ nhiều phía, lãi suất huy động neo cao và khó giảm mạnh trong nửa cuối 2026

Lan Hương - H.T 10:54 | 10/07/2026 Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên
Chia sẻ
Sau nhiều tháng tăng liên tiếp, mặt bằng lãi suất huy động được dự báo sẽ tiếp tục neo ở mức cao trong những tháng cuối năm.

Lãi suất neo cao và mở ra nhiều kênh 'lợi tức'

Sau nhiều tháng liên tục tăng, mặt bằng lãi suất huy động đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu ổn định trong tháng 6/2026 khicó một số ngân hàng thực hiện điều chỉnh giảm biểu lãi suất huy động tại một số kỳ hạn, mức giảm từ 0,1 - 0,2 điểm %. Có thể kể đến những cái tên như LPBank, VIB, VPBank và BIDV.

Tuy nhiên, diễn biến này chưa đồng nghĩa với việc lãi suất sẽ nhanh chóng hạ nhiệt. Khi áp lực thanh khoản vẫn tiếp diễn, các ngân hàng phải tìm mọi cách để tăng lượng tiền gửi trong hệ thống.

Nhiều gói lãi suất đặc biệt hay tại các sản phẩm huy động dành cho một nhóm đối tượng đặc thù, với nhiều hình thức khuyến mãi từ tặng voucher, quà hay hoàn tiền đã đưa lợi suất của khoản tiền gửi tiết kiệm có nơi lên tới 12% với kỳ hạn gửi 6 tháng.

Với kênh chứng chỉ tiền gửi, mức lãi suất cũng được đẩy lên 9%/năm với kỳ hạn 6 tháng tại một ngân hàng cổ phần lớn.

 

Mặt bằng lãi suất nhìn chung vẫn duy trì ở vùng cao. Đến cuối tháng 6 theo biểu lãi suất công bố, lãi suất huy động cao nhất đối với kỳ hạn dưới 12 tháng đạt 8,8%/năm, trong khi kỳ hạn 12 tháng lên tới 9%/năm. Lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại ở mức khoảng 8,4%/năm, cao hơn 2,59 điểm % so với đầu năm.

Diễn biến này cho thấy thanh khoản của hệ thống ngân hàng không còn dồi dào như giai đoạn trước khi tín dụng vẫn tăng nhanh hơn huy động nới rộng khoảng cách chênh lệch.

Chia sẻ tại họp báo mới đây, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ Phạm Chí Quang cho rằng sự chênh lệch này là khó khăn lớn nhất mà ngành ngân hàng đang phải đối mặt ở thời điểm hiện tại. Ông cho biết bình quân trong giai đoạn 5 năm trở lại đây, tốc độ tăng trưởng tín dụng luôn cao hơn từ 3 - 4% so với tốc độ tăng trưởng huy động vốn.

Theo số liệu của NHNN, tính đến 15/6, chênh lệch này tiếp tục tiếp diễn, tăng trưởng tín dụng là 6,38% trong khi tăng trưởng huy động vốn chỉ đạt khoảng 4,3%, chênh lệch khoảng 2%.

 

Áp lực từ nhiều phía

Khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, đặc biệt tỷ lệdư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) tiếp tục tăng  cao (khoảng 112% đến 117%, theo NHNN), các ngân hàng đứng trước bài toán khó về cân đối vốn khi khoảng 80% vốn huy động hệ thống là ngắn hạn trong khi dư nợ cho vay trung dài hạn lại chiếm gần 50%.

Điều này tạo áp lực khiến các ngân hàng vẫn cạnh tranh về lãi suất để thu hút dòng tiền gửi, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế còn lớn (phục vụ cho loạt dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia lớn).

Việc lãi suất tiền gửi duy trì ở mức cao giúp người dân có thêm cơ hội gia tăng lợi nhuận từ khoản tiền nhàn rỗi. Tuy nhiên, chi phí vốn của các ngân hàng cũng tăng lên, qua đó thu hẹp dư địa giảm lãi suất cho vay và ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Đây là nguyên nhân mà nhà điều hành luôn duy trì quan điểm chỉ đạo các ngân hàng giữ ổn định mặt bằng lãi suất huy động và giảm lãi suất cho vay.

Tại hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Đoàn Thái Sơn cho biết cơ quan điều hành tiếp tục duy trì lãi suất điều hành ở mức thấp nhằm tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Trước đó, ngày 9/4, Ngân hàng Nhà nước đã làm việc với các ngân hàng thương mại, yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi mới đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời giảm lãi suất huy động niêm yết và lãi suất cho vay nhằm tạo điều kiện để doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn với chi phí thấp hơn.

Áp lực từ nhiều phía này khiến cho các ngân hàng đang rơi vào tình thế tương đối khó khăn. Một mặt, họ phải đẩy mạnh huy động vốn nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng và duy trì các tỷ lệ an toàn theo quy định. Mặt khác, tuân theo định hướng điều hành của NHNN vẫn là giữ ổn định, thậm chí giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Không có nhiều dư địa để giảm lãi suất

Nhiều chuyên gia phân tích cũng như các công ty chứng khoán có chung nhận định rằng mặt bằng lãi suất khó giảm khi áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu khi chênh lệch tín dụng - huy động có chiều hướng ngày càng mở rộng.

Theo ông Trần Ngọc Báu, Nhà sáng lập kiêm Giám đốc điều hành Công ty Dữ liệu Kinh tế Tài chính WiGroup, mặt bằng lãi suất từ nay đến cuối năm sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao, bởi mức nền gần như đã "đóng đinh".

Tuy nhiên, ông cũng chỉ ra một mặt tích cực, đó là việc lãi suất duy trì ở mặt bằng cao sẽ giúp bảo vệ giá trị đồng nội tệ, sẽ "đỡ " áp lực cho tỷ giá và dự báo tỷ giá từ giờ đến cuối năm sẽ khá ổn định.

"Ước tính đến cuối năm, tỷ giá sẽ không biến động quá 2%. Đây là một năm tỷ giá ổn định nhờ sự điều hành chủ động của NHNN. Khi tâm lý thị trường ổn định, hiện tượng găm giữ USD sẽ dịu lại. Việc lãi suất trong nước hấp dẫn hơn so với quốc tế sẽ tạo ra một 'vòng xoáy' tích cực, giúp nhà đầu tư yên tâm hơn khi nắm giữ VND", ông Báu phân tích.

Còn theo các chuyên gia của Chứng khoán KB (KBSV), tình trạng căng thẳng thanh khoản của hệ thống ngân hàng tiếp tục duy trì trong nửa đầu năm 2026 và chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Trong khi đó, áp lực ổn định lạm phát và tỷ giá làm thu hẹp đáng kể dư địa nới lỏng của chính sách tiền tệ của NHNN so với năm 2025.

Hệ quả là áp lực huy động của các ngân hàng thương mại gia tăng, qua đó khiến mặt bằng lãi suất huy động tăng nóng trong quý đầu năm. Nhóm chuyên gia dự báo lãi suất sẽ neo cao trong quý III và có dấu hiệu giảm từ quý IV.

"Chúng tôi cho rằng lãi suất huy động đã đang ở vùng đỉnh, sẽ tiếp tục neo cao trong quý III, trước khi cho dấu hiệu giảm dần từ đầu quý IV", báo cáo của KBSV cho hay.

Ba nguyên nhân mà KBSV đưa ra làm cơ sở cho dự báo này là: xung đột Mỹ - Iran hạ nhiệt sẽ làm gim bt áp lc lên giá du và lm phát trong nưc; giải ngân đầu tư công tăng tốc đưa thêm tiền từ ngân sách vào hệ thông ngân hàng; nhng thay đi trong cơ chế điu hành ca NHNN nhm h nhit mt bng lãi sut và gim áp lc huy đng ca các ngân hàng.

Nhận định về dư địa giảm lãi suất, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, cho rằng dư địa để tiếp tục giảm lãi suất hiện nay vẫn còn nhưng không còn nhiều như giai đoạn trước.

Theo ông, điều hành chính sách tiền tệ hiện nay phải dung hòa nhiều mục tiêu cùng lúc, bao gồm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, kiểm soát lạm phát, ổn định tỷ giá, duy trì niềm tin thị trường và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng.

Vị chuyên gia cho rằng bài toán của nền kinh tế hiện nay không chỉ nằm ở chi phí vốn. Thực tế đã có giai đoạn lãi suất giảm khá mạnh nhưng tín dụng vẫn tăng chậm, cho thấy khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào sức cầu thị trường, đầu ra sản xuất kinh doanh, mức độ minh bạch tài chính cũng như niềm tin đầu tư.

Chuyện gia dự báo mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ tiếp tục ổn định là chủ đạo và chỉ dao động nhẹ giữa các nhóm ngân hàng. (Ảnh: TPBank).

Theo đó, dư địa quan trọng hơn trong thời gian tới là nâng cao hiệu quả phân bổ tín dụng, đẩy mạnh chuyển đổi số nhằm giảm chi phí vận hành của các ngân hàng, đồng thời phát triển thị trường vốn và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Khi các yếu tố này được cải thiện, mặt bằng lãi suất có thể giảm theo hướng bền vững hơn mà vẫn bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.

Ông Huy dự báo từ nay đến cuối năm, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ tiếp tục ổn định là chủ đạo và chỉ dao động nhẹ giữa các nhóm ngân hàng. Khả năng xuất hiện biến động lớn được đánh giá là không cao nếu kinh tế thế giới không phát sinh thêm các cú sốc mới.

Theo chuyên gia, về dài hạn, Việt Nam cần tiếp tục phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các định chế tài chính phi ngân hàng nhằm hình thành các kênh dẫn vốn trung, dài hạn hiệu quả hơn cho nền kinh tế. Khi cấu trúc thị trường vốn được hoàn thiện, áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng sẽ giảm dần, qua đó tạo thêm dư địa duy trì mặt bằng lãi suất thấp và ổn định.