Cổ phiếu 'vua' có còn là tâm điểm đầu tư trong 2026?
Tăng trưởng tín dụng 2026 duy trì nhịp độ cao
Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), tính đến ngày 24/12/2025, tín dụng toàn nền kinh tế đã tăng 17,87% so với đầu năm, cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.
Trên đà tăng trưởng mạnh mẽ trên, nhóm nghiên cứu từ Chứng khoán MBS trong một báo cáo mới đây dự báo, tăng trưởng tín dụng cả năm 2025 sẽ đạt khoảng 20%, nhờ đẩy mạnh đầu tư công và hoạt động sản xuất - kinh doanh, tiêu dùng vào tháng cuối năm cũng như động lực từ nền lãi suất vẫn duy trì ở mức thấp.
Bước sang năm 2026, MBS Research kỳ vọng tăng trưởng tín dụng toàn ngành ngân hàng vẫn duy trì quanh mức 20% nhằm hỗ trợ cho mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số.
Cũng ở góc nhìn lạc quan, Chứng khoán TPS kỳ vọng mức tăng trưởng tín dụng hợp lý cho năm 2026 là 19% với phía cầu là các ngành làm động lực tăng trưởng kinh tế như bất động sản hồi phục khi Chính phủ đẩy mạnh giải quyết pháp lý, đẩy mạnh đầu tư công, xuất khẩu hồi phục sau thuế quan, công nghệ (AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, IoT,… là động lực tăng trưởng kinh tế mới)...
Ảnh: TPS
Mặt bằng lãi suất chịu áp lực tăng, NIM khó cải thiện
Trong bối cảnh tín dụng năm qua tăng trưởng tích cực, lãi suất huy động đã có dấu hiệu tăng trở lại trong quý cuối năm trong bối cảnh tăng trưởng huy động chậm nhịp hơn tạo áp lực thanh khoản, cùng với áp lực tỷ giá hiện hữu tạo thách thức cho điều hành chính sách tiền tệ.
Những ngày cuối năm, thị trường vẫn ghi nhận những diễn biến điều chỉnh tăng lãi suất huy động tại nhiều nhà băng, tín hiệu cho thấy sự tiếp tục nóng lên của cuộc đua hút vốn trong hệ thống ngân hàng - một phần do áp lực tăng trưởng tín dụng gia tăng trong dịp cuối năm.
Đáng chú ý, lần đầu tiên sau gần một năm duy trì mặt bằng lãi suất ổn định, cả bốn ngân hàng quốc doanh gồm Vietcombank, BIDV, VietinBank và Agribank gần đây đã đồng loạt nâng lãi suất huy động. Mức điều chỉnh phổ biến khoảng 0,5%/năm ở nhiều kỳ hạn. Theo đó, mặt bằng lãi suất tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên tại nhóm ngân hàng quốc doanh đã quay về ngang bằng cuối năm 2023, trong khi lãi suất kỳ hạn ngắn vẫn thấp hơn khoảng 0,5%.
Ở khối ngân hàng TMCP tư nhân, nhiều ngân hàng nhỏ cũng gia nhập "đường đua" khi liên tục tung ra các chương trình cộng lãi suất hấp dẫn dịp cuối năm, đưa mặt bằng lãi suất cao nhất trên thị trường vọt lên 7–8%/năm cho các khoản tiền gửi chỉ từ vài trăm triệu đồng.
Ảnh: TPS
Sang năm 2026, MBS Research dự báo mặt bằng lãi suất huy động sẽ duy trì xu hướng tăng trong nửa đầu năm để đảm bảo nguồn vốn cho mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống lên tới 20%. Mức tăng được dự phóng khoảng 25-50 điểm cơ bản so với cuối năm 2025 tại nhóm nhà băng tư nhân và khoảng 15-30 điểm cơ bản tại nhóm ngân hàng gốc quốc doanh.
Về phía lãi suất cho vay, để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, các chuyên gia cho rằng lãi vay dự kiến được giữ ở mức thấp tương đương năm 2025 trong nửa đầu năm. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất đầu ra có thể nhích dần lên trong nửa cuối năm 2026 khi các khoản vay trung và dài hạn hết thời gian ưu đãi lãi suất và chuyển sang thả nổi theo lãi suất huy động.
Trong một nhận định lạc quan hơn, Chứng khoán Tiên Phong (TPS) kỳ vọng đà tăng lãi suất huy động sẽ sớm hạ nhiệt trong 2026 nhờ một số yếu tố như tỷ giá giảm áp lực khi Fed tiếp tục hạ lãi suất và xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng; áp lực tăng huy động chỉ là vấn đề cục bộ xuất hiện tại một số ngân hàng nhất định; trong khi quan điểm xuyên suốt của Chính phủ vẫn là hỗ trợ nền kinh tế tăng trưởng hai con số mặc dù cần kiểm soát tại một số thời điểm...
Tuy vậy, nhìn chung trong bối cảnh lãi suất chịu sức ép tăng, giới phân tích cho rằng NIM toàn ngành sẽ tiếp tục chịu áp lực khó cải thiện trong 2026, có thể giảm nhẹ hoặc kịch bản lạc quan nhất là đi ngang.
3 yếu tố chủ yếu tạo thêm sức ép lên NIM bao gồm: lãi suất cho vay tăng chậm hơn huy động để hỗ trợ nền kinh tế và do áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng gia tăng; tăng trưởng tín dụng mới sẽ dưa nhiều vào các dự án công hoặc các dự án lớn, có lãi suất cho vay thấp hơn mảng bán lẻ và cuối cùng, tăng trưởng huy động thấp khiến các ngân hàng khó tăng hệ số CASA để cải thiện chi phí tài chính (CoF).
Tương tự, MBS Research cũng dự báo NIM toàn ngành sẽ đi ngang, hoặc giảm nhẹ cho cả năm 2026 so với 2025. Các ngân hàng có vừa và nhỏ chịu sức ép cạnh tranh về việc giảm lãi suất nhằm tăng tín dụng mục tiêu có thể sẽ ghi nhận NIM giảm so với năm 2025.
Ảnh: MBS Research
Chất lượng tài sản có thể không nhiều biến động
Tỷ lệ nợ xấu (NPL) toàn ngành cuối quý III/2025 ở mức 2,0%, giảm nhẹ so với quý trước (2,1%) nhưng đi ngang so với đầu năm.
TPS đánh giá tỷ lệ nợ xấu chỉ duy trì tốt chứ chưa cải thiện, do tỷ lệ NPL toàn ngành ngân hàng đã tăng lên mốc 2,0% kể từ quý I/2023 và đến nay vẫn chưa thể xuống dưới mức 2,0%.
Ảnh: TPS
Nhóm phân tích đồng thời lưu ý chất lượng tài sản cải thiện phân hóa ở các ngân hàng với một số ngân hàng ghi nhận tín hiệu tích cực như ACB, VIB, VPB, CTG, BID, VCB trong khi STB, OCB, MBB và HDB ghi nhận chất lượng tài sản suy giảm.
Bên cạnh đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) sau khi tạo đáy ở quý II/2025 (79,8%) thì đã có sự cải thiện lên 84,3% cuối quý III, tuy nhiên LLR dưới 100% cho thấy bộ đệm vốn toàn ngành chưa quá tích cực. Theo đó, dự kiến các ngân hàng sẽ chịu nhiều áp lực về chi phí dự phòng trong 2026.
"Chúng tôi nhận thấy chỉ có 4 ngân hàng ước tính có tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 100% như VCB, CTG, TCB, BAB. Các ngân hàng này theo đó sẽ có nhiều dư địa để giảm chi phí tín dụng hơn. Trong đó, CTG và TCB đã áp dụng chiến lược tăng mạnh dự phòng trong 2025 trong khi VCB mặc dù LLR cao nhưng cũng đã giảm so với đầu năm", TPS nhận định.
MBS Research cũng chỉ ra rằng tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tại cuối quý III/2025 là 2,0%, tăng 9 điểm cơ bản so với cuối năm 2024. Tín hiệu tích cực là tốc độ gia tăng nợ xấu giảm dần qua từng quý kể từ khi chính sách tiền tệ được nới lỏng từ quý III/2023. Về bộ đệm dự phòng, tỷ lệ bao nợ xấu toàn ngành mặc dù vẫn chưa phục hồi về mức trên 100% như trong giai đoạn hậu Covid, nhưng đã bắt đầu cho thấy dấu hiệu hồi phục. LLR toàn ngành đạt 84,3% tại cuối quý III/2025, tăng nhẹ 4% so với quý trước dù vẫn giảm so với mức 91,4% đầu năm 2025 (chủ yếu do nợ xấu giảm khi tín dụng cao vào cuối năm).
Tăng trưởng tín dụng khả quan cùng với việc tích cực trích lập và xử lý nợ xấu là những yếu tố chính giúp chất lượng tài sản toàn ngành cải thiện. Những ngân hàng có mức tăng tín dụng tốt như VPB, TCB, MBB hay CTG có mức cải thiện chất lượng tài sản tốt hơn so với toàn ngành. Tuy nhiên, xếp hạng về chất lượng tài sản của toàn ngành không có quá nhiều thay đổi khi các ngân hàng như VCB, ACB, TCB hay CTG vẫn vượt trội so với toàn ngành.
Trong năm 2026, MBS Research kỳ vọng chất lượng tài sản toàn ngành sẽ không biến động nhiều so với 2025. Áp lực gia tăng nợ xấu sẽ giảm dần đi khi tăng trưởng tín dụng khả quan hơn nhưng đồng thời bộ đệm trích lập của các ngân hàng cũng đã vơi đi khá nhiều khi tích cực xử lý nợ tồn đọng trong 2 năm gần nhất. Tỷ lệ bao nợ xấu dự kiến vẫn sẽ duy trì trên mức 80% trong năm 2026 nhưng khả năng trên 100% sẽ không quá cao.
Định giá cổ phiếu ngân hàng đã về vùng hợp lý?
TPS nhận định định giá nhóm ngân hàng không đắt trong dài hạn nhưng chưa rẻ ngắn hạn.
Trong khoảng 3 quý đầu năm, cổ phiếu nhóm ngân hàng diễn biến khá tích cực nhờ kỳ vọng ngành ngân hàng sẽ hưởng lợi khi nền kinh tế mở rộng và cổ phiếu 'vua' cũng thuộc nhóm ưa thích hàng đầu của các nhà đầu tư.
Tuy nhiên, khoảng 2-3 tháng gần đây, nhóm ngân hàng đang chịu sự điều chỉnh với mức định giá P/B trung bình ngành hiện đang ở mức 1,6x (ngày 16/12/2025), tương đương mức TB 5 năm -0,6 độ lệch chuẩn (SD). Theo đó, nhóm phân tích cho rằng định giá ngành nói chung đã về mức không đắt và có nhiều tiềm năng để được tái định giá lên mức TB 5 năm (1,75x lần) nhờ một số triển vọng.
Thứ nhất, mục tiêu nền kinh tế tăng trưởng 2 con số sẽ hỗ trợ tăng trưởng tín dụng cao và các chính sách mới về xử lý nợ xấu giúp NPL giảm để hoàn nhập dự phòng. Thứ hai, năm 2026, khi FTSE công bố thông tin chính thức về lộ trình nâng hạng TTCK Việt Nam thì nhóm cổ phiếu ngân hàng sẽ thuộc nhóm hưởng lợi đầu tiên.
Ảnh: TPS
Tuy nhiên, các chuyên gia cũng lưu ý những áp lực trong ngắn hạn như lãi suất huy động gia tăng tiếp tục khiến NIM suy giảm và áp lực gia tăng chi phí dự phòng để cải thiện chất lượng tài sản trong 2026 là những yếu đè nặng lên giá cổ phiếu trong ngắn hạn. Do đó, trong ngắn hạn, TPS vẫn bỏ ngõ kịch bản định giá P/B ngành có thể giảm xuống mức TB 5 năm -1SD, cũng là vùng đáy của 5 năm qua (khoảng 1,44x lần, tức giảm thêm 9% so với hiện tại).
Còn theo MBS Research, định giá ngành ngân hàng đã giảm về mức 1,5x, sau khi điều chỉnh giảm 19% từ mức đỉnh vào cuối tháng 8/2025, và hiện thấp hơn 11% so với P/B trung bình 5 năm.
Theo đó, các chuyên gia nâng mức khuyến nghị lên khả quan cho toàn ngành với triển vọng tăng lợi nhuận trên 20% cùng với định giá hợp lý.
Về chiến lược đầu tư 2026, MBS ưa thích CTG, ACB và BID nhờ tín dụng được hưởng lợi tiếp tục từ xu hướng đẩy mạnh cho vay đầu tư công; chi phí vốn thấp giúp tạo dư địa tăng trưởng tín dụng và nới rộng NIM cùng với kế hoạch tăng vốn, đặc biệt là vốn cấp 1 nhằm đảm bảo cho tăng trưởng cao và mở rộng sang các mảng KD mới như vàng, tài sản số,...
Từ góc độ chuyên gia, trong một talkshow gần đây, ông Trần Thăng Long – Giám đốc Trung tâm Phân tích và Nghiên cứu từ Chứng khoán BIDV (BSC) cho rằng định giá phần lớn cổ phiếu ngân hàng hiện đang giao dịch ở mức tương đối hợp lý so với kỳ vọng của thị trường, ngoại trừ một số trường hợp có mức định giá cao hơn mặt bằng chung.
Trong ngắn hạn, ông Long đánh giá rủi ro nợ xấu chưa tạo áp lực lớn, dù về trung và dài hạn vẫn là yếu tố cần được theo dõi, đặc biệt trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng cao kéo dài. Ngành ngân hàng nhìn chung sẽ tiếp tục giữ vai trò trụ cột, nhưng dư địa bứt phá mạnh như giai đoạn lãi suất thấp trước đây có thể không còn quá rộng mở.
Về tổng thể, theo chuyên gia, bước sang năm 2026, ngành ngân hàng nhiều khả năng sẽ tiến vào giai đoạn sàng lọc rõ nét hơn, khi vị thế dẫn dắt thị trường không còn mang tính đồng đều mà phụ thuộc ngày càng lớn vào chất lượng tăng trưởng của từng ngân hàng.