Kinh tế Việt Nam 2026: Cơ hội và thách thức đan xen
Tăng trưởng và bài toán của kinh tế Việt Nam
Nhìn lại năm 2025, nền kinh tế Việt Nam ghi nhận sự tích cực rõ nét trong nhiều lĩnh vực: GDP cả năm 2025 tăng 8,02% đưa quy mô nền kinh tế lên 514 tỷ USD, bấp chấp những tác động tiêu cực từ thuế đối ứng, xuất khẩu vẫn tăng trưởng 17%, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tiếp tục lập kỷ lục.
Về xuất khẩu, mặc dù phải đối mặt với các rào cản chính sách thuế từ thị trường Mỹ và biến động kinh tế toàn cầu, xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng tốt hơn so với mặt bằng chung của khu vực.
Thu hút FDI cũng cùng chung xu hướng này, song cũng có sự phân hóa đáng chú ý. Số lượng vốn đăng ký mới có xu hướng giảm do các nhà đầu tư chưa vào thị trường đang thận trọng thăm dò và quan sát rủi ro. Tuy nhiên, các nhà đầu tư hiện hữu lại thể hiện sự lạc quan bằng việc tăng vốn mở rộng sản xuất. Vốn FDI thực hiện vì vậy vẫn duy trì mức tăng trưởng tích cực, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế.
Đặc biệt là về đầu tư công, đây là động lực quan trọng trong năm 2025 nhờ việc phân bổ nguồn lực mạnh mẽ, dẫn đến tốc độ tăng trưởng thực hiện rất cao.
Trong năm 2025, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước năm 2025 ước đạt 850,7 nghìn tỷ đồng, bằng 83,6% kế hoạch năm và tăng 26,6% so với năm trước. Mặc dù, giải ngân vốn đầu tư công cả năm chưa hoàn thành 100% kế hoạch được giao nhưng con số tăng trưởng là rất cao so với năm ngoái.
Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn bộc lộ những rủi ro nội tại cũng là các bài toán mà Việt Nam cần giải.
Ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Việt Nam. (Ảnh: NVCC).
Chia sẻ với DNVN, ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) Việt Nam, cho biết trong số ba nguồn vốn đầu tư chính của nền kinh tế trong năm 2025, đầu tư công tăng trưởng 26,6%, đầu tư nước ngoài tăng 11,7% và đầu tư tư nhân tăng 8,4% thì đầu tư tư nhân vẫn tăng chậm nhất, đây là yếu tố đầu tiên.
Trên thực tế, dòng vốn đầu tư ở khu vực tư nhân trở nên chậm chạp trong một khoảng thời gian dài. Trong khi khu vực này giữ vai trò quyết định đối với tăng trưởng dài hạn, khi hiện chiếm gần 60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
“Điều này cho thấy khu vực doanh nghiệp nội địa đang thiếu động lực và cần các biện pháp cải cách môi trường kinh doanh quyết liệt hơn. Không thể dựa mãi vào nguồn lực đầu tư công, muốn tăng đầu tư tư nhân ở trong nước nhanh hơn được thì phải quay về cải cách môi trường kinh doanh, về chính sách thuế, về cấp phép, về quy định,... thuận lợi hơn cho doanh nghiệp, giảm thời gian và chi phí tuân thủ”, ông Hùng nói.
Yếu tố thứ hai là tiêu dùng nội địa, mặc dù số liệu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng 9,2%, nhưng sau khi loại trừ yếu tố giá, mức tăng trưởng thực tế chỉ đạt khoảng 6,7%, tương đương mức tăng năm 2024 và thấp hơn nhiều so với con số tăng trưởng chung. Điều này phản ánh thực trạng khó khăn của người dân, có thể thấy tình trạng hàng quán đóng cửa phổ biến.
Cuối cùng là xuất khẩu của khu vực nội địa. Trái ngược với khối FDI, xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước giảm khoảng 6% trong năm 2025. Hiện tượng "front-loading" (đẩy mạnh đơn hàng sớm vào đầu năm để tránh thuế) đã tạo ra sự tăng trưởng cao lên đến 15% trong quý I/2025 nhưng sau đó yếu dần vào các quý sau do nhu cầu thị trường giảm và áp lực cạnh tranh quốc tế tăng cao.
Thực trạng này cho thấy hai góc độ. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đa dạng hoá hơn nữa thị trường xuất khẩu, mặc dù về quy mô các thị trường khác nhỏ hơn thị trường Mỹ nhiều. Thứ hai là cần nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu của các doanh nghiệp trong nước để duy trì hoặc phát triển được thị phần trên thị trường quốc tế, giúp đa dạng hoá thị trường. Khi Mỹ áp thuế đối ứng, hàng hoá chịu áp lức tăng giá nên sẽ khiến tiêu dùng giảm đi và sức cạnh tranh của hàng Việt Nam so với các nước khác có yếu tố quyết định.
Vì vậy, để xuất khẩu của khu vực trong nước tiếp tục tăng trưởng, doanh nghiệp nội địa cần nâng cao sức cạnh tranh xuất khẩu, không chỉ dựa vào lợi thế giá thành mà phải nâng cao chất lượng và hiệu quả. Ở góc độ quản lý vĩ mô, Việt Nam cần cải thiện môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi và giảm chi phí kinh doanh của doanh nghiệp.
“Các doanh nghiệp trong nước cần nâng cao năng lực sản xuất, quản trị, vốn, nâng cấp công nghệ của thì mới tăng được sức cạnh tranh trên thị trường thế giới”, chuyên gia ADB cho biết.
2026 - Năm đầy thách thức
Năm 2026 được các chuyên gia dự báo sẽ là một năm đầy thách thức đối với các động lực tăng trưởng gặp khó khăn từ các yếu tố bên ngoài.
Khu vực xuất khẩu có thể sẽ khó khăn hơn, khi năm 2025 thuế đối ứng của Mỹ có hiệu lực từ tháng 8, thì năm 2026, các mức thuế này sẽ có hiệu lực ngay từ đầu năm.
Điều này gây áp lực trực tiếp lên hoạt động xuất khẩu, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nội địa. Doanh nghiệp FDI xuất khẩu có thể vẫn tốt, bởi vì họ vẫn duy trì được sức cạnh tranh và các liên kết chuỗi cung ứng quốc tế. Các tập đoàn này có nguồn vốn lớn và lợi thế công nghệ cao, một số ngành có ưu đãi thuế nên ít bị tác động hơn bởi những yếu tố từ bên ngoài. Trong khi đó, xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa sẽ gặp nhiều khó khăn hơn 2025.
Thứ hai là, thu hút đầu tư nước ngoài năm 2026 vẫn tương đối thuận lợi, bởi khu vực FDI vẫn xuất khẩu rất tốt. Tuy nhiên, để mang lại lợi ích nhiều hơn cho nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng thì năm 2026 có thể cân nhắc thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển các lĩnh vực kinh tế nội địa, ví dụ như các dự án hạ tầng, hay các ngành kinh tế ở trong nước chứ không chỉ có xuất khẩu. Hiện nay, ước tính khoảng 70% vốn FDI tập trung vào các ngành liên quan đến sản xuất xuất khẩu, khiến lợi ích lan tỏa đến kinh tế trong nước còn hạn chế.
Bên cạnh rủi ro và áp lực từ bên ngoài, các yếu tố trong nước có cơ hội trở thành động lực quan trọng để duy trì và thúc đẩy tăng trưởng.
Đầu tư công tiếp tục có vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng tương tự như năm 2025, ở quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, tạo đà thúc đẩy đầu tư tư nhân. Trong khi đó, tăng trưởng đầu tư tư nhân lâu dài sẽ phụ thuộc vào cải cách chính sách để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để giảm chi phí, tăng thuận lợi, giảm các gánh nặng về cấp phép, về tuân thủ thuế, phí tạo cho doanh nghiệp sự an tâm và cảm thấy kinh doanh hiệu quả hơn thì họ mới tăng đầu tư.
Tiêu dùng nội địa có xu hướng ổn định, các biện pháp kích thích trực tiếp như giảm thuế VAT vẫn được tiếp tục từ các năm trước. Tiêu dùng chính phủ, thông qua tăng chi tiêu tài khoá như phúc lợi xã hội, y tế, giáo dục có thể có tác dụng tích cực cho phát triển nguồn nhân lực. Tuy nhiên, thúc đẩy tiêu dùng đột phá sẽ là thách thức và cần nhiều thời gian hơn khi đầu tư phát huy hiệu quả, tạo ra thu nhập và công ăn việc làm.
Đâu sẽ là đột phá tăng trưởng năm 2026?
Dự báo về tăng trưởng GDP năm 2026, các tổ chức quốc tế tỏ ra khá thận trọng. Theo báo cáo của ADB, sau khi đạt đỉnh 7,4% vào năm 2025, tăng trưởng của Việt Nam dự báo sẽ giảm xuống còn 6,4% vào năm 2026. Tương tự, WB dự báo mức giảm từ 6,6% xuống 6,1%.
Đáng chú ý nhất, dự báo của IMF cho rằng tăng trưởng của Việt Nam có thể giảm sâu từ mức 6,5% (năm 2025) xuống chỉ còn 5,6% vào năm 2026. Riêng OECD giữ nguyên mức dự báo 6,2% cho cả hai năm với sự ổn định nhưng không có bứt phá.
Lý giải về sự điều chỉnh này, những phân tích từ báo cáo của Cục Thống kê cho rằng nguyên nhân chính đến từ bối cảnh kinh tế toàn cầu dự kiến sẽ tăng trưởng chậm lại. Cụ thể, tăng trưởng toàn cầu năm 2026 dự kiến sẽ thấp hơn năm 2025 khi các động lực tạm thời từ năm trước lắng xuống. Cụ thể, IMF dự báo kinh tế thế giới giảm từ 3,2% (2025) xuống 3,1% (2026) và WB dự báo mức giảm từ 2,8% xuống 2,4%.
Mặt khác, các đối tác thương mại lớn của Việt Nam cũng được dự báo sẽ gặp khó khăn. Trong đó, kinh tế Mỹ năm 2026 còn nhiều bất định dự báo giảm tốc từ mức tăng 2% (2025) xuống 1,7% (theo ADB) hoặc ở mức 2,1% (theo IMF). Đáng chú ý, Trung Quốc vốn là thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam cũng được dự báo tiếp tục đà suy giảm. Cụ thể, mức tăng trưởng rơi xuống khoảng 4,2% - 4,4% trong năm 2026 (theo nhận định IMF và WB).
Tuy nhiên, trong bối cảnh môi trường quốc tế có nhiều thách thức, các công cụ chính sách, đặc biệt để thúc đẩy cầu nội địa và nâng cao sức cạnh tranh quốc tế để khai thác thị trường thế giới sẽ có vai trò then chốt để duy trì và thúc đẩy tăng trưởng.
Nền kinh tế Việt Nam được dự báo tăng trưởng khả quan so với mặt bằng chung khu vực ASEAN khi vẫn có cơ hội lớn trong xuất khẩu, đặc biệt là khối FDI. Bên cạnh đó, đầu tư công cũng có dư địa khi quy mô nền kinh tế ngày càng lớn.
Dự địa lớn cho đầu tư công sẽ là một công cụ quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng. Nợ công của Việt Nam hiện mới chỉ ở mức 34% GDP, những mỗi năm quy mô GDP đều tăng lên cộng với chủ trương mỗi năm tăng quy mô đầu tư công thêm khoảng 2% GDP, con số này tương đương hàng năm trên 10 tỷ đô la Mỹ. Vấn đề mấu chốt không phải là chuyện tăng lượng vốn mà quan trọng hơn là tăng hiệu quả sử dụng vốn.
Theo đánh giá của ông Nguyễn Bá Hùng, có ba trọng tâm có thể tạo đột phá trong tăng trưởng kinh tế thời gian tới.
Thứ nhất, không nên chỉ tập trung vào việc tăng số lượng vốn đầu tư mà phải ưu tiên hiệu quả sử dụng vốn. Cần rút ngắn thời gian phê duyệt dự án đầu tư công và giảm chi phí tuân thủ cho đầu tư tư nhân.
Thứ hai, tiếp tục cải cách môi trường kinh doanh. Thay vì sử dụng các biện pháp hỗ trợ tình thế như trợ cấp lãi suất, Chính phủ nên tập trung vào cải cách thể chế, giảm thuế, phí và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Cuối cùng là quản trị thực thi, tránh tình trạng ban hành chính sách nhanh nhưng thiếu nguồn lực thực hiện dẫn đến trì trệ. Các dự án cần được thẩm định kỹ lưỡng về tính khả thi kinh tế thay vì chỉ mang tính chất chính trị nhất thời.