MBS: Chênh lệch tín dụng - huy động tăng hơn 40% sau 5 tháng, 'cơn khát' thanh khoản chưa thể hạ nhiệt ngay
Tính đến ngày 26/5/2026, chênh lệch giữa tổng tín dụng và tổng huy động vốn toàn hệ thống đạt hơn 1,4 triệu tỷ đồng, tăng hơn 40% so với cuối năm 2025, theo MBS Research.
Trong khi mặt bằng lãi suất huy động hiện đã tăng so với năm 2025, tăng trưởng huy động vẫn chưa theo kịp tốc độ mở rộng tín dụng. Điều này khiến tỷ lệ LDR toàn ngành tiếp tục neo ở mức cao, gia tăng áp lực thanh khoản lên hệ thống ngân hàng.
Ảnh: MBS Research
Một mặt, các ngân hàng cần tăng huy động để thu hẹp chênh lệch giữa tín dụng và nguồn vốn, giảm áp lực thanh khoản và đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định. Mặt khác, việc duy trì mặt bằng lãi suất huy động cao sẽ tiếp tục gây áp lực lên chi phí vốn, từ đó gây sức ép lên NIM.
Trong các quý còn lại của năm, nhóm phân tích cho rằng định hướng giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo của NHNN có thể khiến các ngân hàng giảm nhẹ cạnh tranh huy động bằng lãi suất, trong khi việc tín dụng tiếp tục tăng để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng GDP có thể khiến chênh lệch tín dụng và huy động càng thêm lớn; qua đó, làm gia tăng áp lực thanh khoản hệ thống.
Ảnh: MBS Research
Về phía nhà điều hành, trong 5 tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục điều tiết thanh khoản theo hướng thận trọng và linh hoạt nhằm cân bằng giữa mục tiêu hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định thị trường tiền tệ.
Cụ thể, NHNN hút ròng gần 80.000 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, trái ngược với mức bơm ròng gần 20.000 tỷ đồng trong cùng kỳ năm trước. Bên cạnh hoạt động OMO, NHNN cũng đã thực hiện 3 đợt hoán đổi ngoại tệ từ đầu năm đến nay nhằm hỗ trợ thanh khoản VND trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng vẫn biến động mạnh. Lãi suất liên ngân hàng bình quân 5 tháng đầu năm đạt 5,8%, cao hơn đáng kể so với mức bình quân cùng kỳ năm ngoái. Lãi suất qua đêm có thời điểm tăng lên 17,25% trong quý I và 10,45% trong quý II.
Diễn biến phản ánh thanh khoản hệ thống vẫn chịu áp lực, đặc biệt trong bối cảnh huy động từ thị trường 1 chưa cải thiện tương xứng với tăng trưởng tín dụng.
Do vậy, MBS Research cho rằng thanh khoản hệ thống nhiều khả năng tiếp tục ở trạng thái căng thẳng trong nửa cuối năm 2026, trong khi LDR của các ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao.
Ảnh: MBS Research
Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) trong một nhận định mới đây cũng đánh giá rằng nghiệp vụ OMO hay hoán đổi ngoại tệ của NHNN như thời gian qua chỉ giúp ngân hàng “kéo dài đủ lâu để tự xoay thanh khoản” khi tỷ lệ LDR toàn hệ thống vẫn ở mức cao cũng như giải quyết vấn đề giúp thị trường 2 không bị căng thẳng quá mạnh; chứ không giúp thanh khoản bớt căng.
Theo nhóm phân tích, hệ thống đã bước sang pha chi phí huy động cao hơn do mất cân đối cấu trúc nguồn vốn. Vì vậy, trong trường hợp các vấn đề cân đối cấu trúc không được cải thiện, thanh khoản hệ thống chỉ hạ nhiệt kỹ thuật ở từng phiên giao dịch thông qua điều tiết OMO.
Dù vậy, VDSC kỳ vọng có một số yếu tố tích cực hỗ trợ thanh khoản thời gian tới.
Một là lượng tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng có thể dần quay trở lại, với sự hỗ trợ từ các điều chỉnh gần đây về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh. Tuy nhiên, quá trình này sẽ diễn ra từ từ, khó tạo ra sự cải thiện đột biến trong ngắn hạn.
Hai là nguồn thu từ xuất khẩu. Trong 5 tháng đầu năm, Việt Nam nhập siêu 13,8 tỷ USD, phản ánh dòng ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu chưa trở lại đủ mạnh để hỗ trợ tăng trưởng tiền gửi doanh nghiệp. Từ cuối quý III, dòng ngoại tệ được kỳ vọng sẽ cải thiện dần khi hoạt động xuất khẩu có thể phục hồi theo yếu tố mùa vụ và từng bước chuyển hóa thành tích lũy tiền gửi bằng VND.
Ba là dòng vốn FDI. Khi lãi suất tiền gửi VND ở mức 8 - 9%, cao hơn đáng kể so với lãi suất cơ bản của Fed (ở mức 3,5 - 3,75%), doanh nghiệp FDI có thể có thêm động lực cơ cấu lại nguồn vốn, chuyển một phần USD sang VND và gửi tại thị trường trong nước.
Yếu tố cuối cùng, cũng là động lực then chốt nhất có thể hỗ trợ thanh khoản hệ thống, là giải ngân đầu tư công. Dù vậy, tiến độ thực hiện và khả năng hấp thụ vốn vẫn là những ẩn số, đặc biệt trong bối cảnh chi phí vật liệu xây dựng và giá năng lượng duy trì ở mức cao.
VDSC đồng thời lưu ý rằng các yếu tố hỗ trợ trên vẫn cần có thời gian để lan tỏa và kiểm định tính hiệu quả thực tế. Do vậy, trong ngắn hạn, dự báo các ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và gia tăng vay vốn nước ngoài nhằm bù đắp nguồn vốn thiếu hụt trong nước.
Tuy nhiên, các nguồn vốn này đều có chi phí khá cao và ảnh hưởng trực tiếp đến mặt bằng lãi suất và xu hướng lãi suất neo cao còn tiếp diễn trong thời gian tới. Và điều then chốt chi phối thanh khoản hệ thống và mặt bằng lãi suất vẫn là định hướng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN với ưu tiên ổn định tỷ giá.
Áp lực giảm NIM lớn hơn ở nhóm ngân hàng bán lẻ, ngân hàng tập trung cho vay kinh doanh BĐS
MBS Research cũng nhận định rằng bối cảnh căng thẳng thanh khoản, khi tăng trưởng huy động chưa theo kịp tăng trưởng tín dụng; tác động của nó đến chi phí vốn dự báo sẽ tiếp tục gia tăng áp lực giảm NIM với toàn ngành trong năm nay.
Mức độ biến động NIM sẽ tiếp tục phân hóa giữa các ngân hàng. Nhóm có quy mô lớn, đặc biệt nhóm quốc doanh, như Vietcombank, VietinBank, Techcombank, MB, ACB... được kỳ vọng sẽ có mức giảm NIM thấp hơn nhờ lợi thế về CASA và các nguồn vốn chi phí thấp. Ngoài ra, những ngân hàng có LDR thấp như ACB, HDBank… dự báo sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn.
Ngược lại, nhóm ngân hàng có tăng trưởng tín dụng cao như nhóm nhận chuyển giao bắt buộc, các ngân hàng có tỷ trọng cho vay bán lẻ lớn hoặc dư nợ liên quan đến kinh doanh BĐS cao có thể sẽ đối mặt với áp lực giảm NIM lớn hơn.