Indonesia áp thuế chống bán phá giá đến 49,2% lên tôn lạnh Việt Nam

09:39 19/02/2021 Theo dõi Doanh Nhân Việt Nam trên Doanh Nhân Việt Nam trên Google news
Chia sẻ

Sau hơn 1 năm điều tra, Indonesia đã kết luận tôn lạnh Việt Nam bán phá giá vào nước này, và quyết định áp thuế chống bán phá giá từ 3,01 - 49,2% đối với mặt hàng tôn lạnh có xuất xứ từ Việt Nam.

Ngày 18/2, Cục Phòng vệ Thương mại (Bộ Công Thương) cho biết, đơn vị này vừa nhận được thông tin về việc Ủy ban chống bán phá giá Indonesia (KADI) công bố Kết luận điều tra cuối cùng trong vụ việc điều tra chống bán phá giá đối với tôn lạnh có xuất xứ từ Việt Nam và Trung Quốc.
 
Kết luận điều tra của KADI cáo buộc rằng thép mã hợp kim nhôm kẽm (hay còn gọi là tôn lạnh) có xuất xứ từ Việt Nam và Trung Quốc đã bán phá giá giá gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất tôn lạnh nội địa của Indonesia.
 
Indonesia áp thuế lên tôn lạnh Việt Nam
Tôn lạnh Việt Nam khi xuất khẩu sang Indonesia sẽ bị áp thuế từ 3,07% đến 55,43%
 
Từ kết luận điều tra trên, cơ quan này quyết định áp dụng thuế chống bán phá giá từ 3,01 tới 49,2% đối với Việt Nam và từ 3,07% tới 55,43% đối với Trung Quốc. Một số doanh nghiệp xuất khẩu lớn của Việt Nam có mức thuế chống bán phá giá tương đối thấp như Tôn Đông Á (3,01%), Tôn Hoa Sen (5,34%).
 
KADI đã bắt đầu điều tra chống bán phá giá đối với tôn lạnh có xuất xứ từ Việt Nam và Trung Quốc từ ngày 26/8/2019. Sau gần 1 năm điều tra, vào 30/7 năm ngoái, cơ quan này công bố dự thảo kết luận điều tra vụ việc. Khi ấy, KADI cho rằng sản phẩm đang bán phá giá và đã gây ra thiệt hại cho các công ty tôn lạnh của Indonesia. Sau đó, Cục Phòng vệ thương mại đã gửi thư phản đối một số kết luận chưa phù hợp, chưa phản ánh đúng tình hình thực tế của doanh nghiệp Việt Nam, như vấn đề thuế giá trị gia tăng, sự trùng lặp trong tính toán… Các nội dung thiếu chính xác này đã dẫn tới biên độ bán phá giá cao và gây bất lợi cho doanh nghiệp Việt Nam.
 
Cục Phòng vệ thương mại cũng đề nghị KADI xem xét lại một cách thận trọng phương pháp tính toán, có tính tới tổng thể các yếu tố, bao gồm cả mức độ hợp tác cao nhất của doanh nghiệp Việt Nam, đảm bảo phù hợp với các quy định của WTO.
 
H.A