Khu vực DNNN đạt gần 3 triệu tỷ đồng doanh thu và 256 nghìn tỷ lợi nhuận năm 2024
Tại Diễn đàn “Doanh nghiệp Nhà nước nâng cao năng lực cạnh tranh và vai trò dẫn dắt” diễn ra ngày 20/11, bà Nguyễn Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp Nhà nước (Bộ Tài chính) - đã trình bày một bức tranh toàn diện về thực trạng hoạt động và năng lực của khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay.
Bà Nguyễn Thu Thủy - Phó Cục trưởng Cục Phát triển Doanh nghiệp Nhà nước (Bộ Tài chính). Ảnh: BTC.
Tính đến năm 2025, cả nước có 866 doanh nghiệp có vốn nhà nước do 49 Bộ, ngành và địa phương làm đại diện chủ sở hữu. Trong đó, số doanh nghiệp thuộc các Bộ là 214 đơn vị, còn lại 652 doanh nghiệp thuộc quản lý của các tỉnh, thành phố.
Xét theo tỷ lệ vốn nhà nước nắm giữ, nhóm doanh nghiệp 100% vốn vẫn chiếm số lượng lớn nhất.
Cơ cấu doanh nghiệp theo tỷ lệ vốn nhà nước. Ảnh: M.T tổng hợp từ Bộ Tài Chính.
Có thể thấy dù số lượng đã giảm mạnh so với giai đoạn trước, DNNN vẫn tập trung chủ yếu vào các ngành có vai trò nền tảng, tạo ảnh hưởng trực tiếp đến ổn định kinh tế và hạ tầng quốc gia.
Theo báo cáo của 815 doanh nghiệp có vốn nhà nước (không tính 4 ngân hàng thương mại nhà nước), DNNN vẫn duy trì quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu lớn. Các chỉ tiêu tài chính cũng cho thấy khu vực này đang đóng góp đáng kể vào tăng trưởng.
Một số chỉ tiêu tài chính của DNNN tính đến 31/12/2024. Ảnh: M.T tổng hợp từ Bộ Tài Chính.
Hiệu suất sinh lời cũng cho thấy sự cải thiện đáng kể. ROE đạt 13%, ROA duy trì 6%, mức cao hơn khu vực FDI và doanh nghiệp tư nhân.
Dù vậy, vẫn còn 70 doanh nghiệp phát sinh lỗ trong năm 2024 và 164 doanh nghiệp còn lỗ lũy kế với giá trị hơn 106.000 tỷ đồng. Điều này cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các doanh nghiệp trong cùng khu vực.
DNNN tiếp tục chi phối ở nhiều lĩnh vực có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế.
Trong ngành điện, EVN đảm bảo cung ứng cho sản xuất và tiêu dùng cả nước với tổng công suất đặt năm 2024 đạt khoảng 82.400 MW. Tỷ trọng năng lượng tái tạo đạt 26%, góp phần quan trọng trong mục tiêu chuyển dịch năng lượng.
Trong dầu khí, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (PVN) giữ vị thế một trong những tập đoàn năng lượng hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Doanh nghiệp này không chỉ đóng góp lớn về doanh thu và lợi nhuận mà còn đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Trong lĩnh vực xăng dầu, Petrolimex chiếm 50% thị phần, các doanh nghiệp nhà nước khác chiếm thêm 34,5%. Điều này giúp bình ổn thị trường trong các thời điểm biến động lớn về giá nguyên liệu.
Ở lĩnh vực viễn thông - hạ tầng số, Viettel, VNPT và MobiFone cùng nhau nắm giữ hơn 97% thị phần băng rộng di động và trên 95% thị phần điện thoại cố định. Đây là nền tảng để triển khai các chương trình chuyển đổi số quốc gia.
Trong vận tải và logistics, các doanh nghiệp như Vietnam Airlines, Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam, Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn hay Tổng công ty Hàng hải Việt Nam nắm giữ các hạ tầng quan trọng như cảng biển, cảng hàng không, đội tàu và tuyến đường sắt quốc gia.
Những thách thức lớn trong năng lực cạnh tranh và quản trị
Theo bà Thuỷ, dù nắm giữ nguồn lực lớn và hiện diện trong nhiều ngành trọng yếu, khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn đang đối mặt với hàng loạt rào cản ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động.
Một trong những điểm đáng chú ý là vai trò dẫn dắt chuỗi giá trị vẫn chưa rõ nét. Nhiều doanh nghiệp vận hành theo mô hình khép kín, thực hiện gần như toàn bộ các công đoạn từ sản xuất đến tiêu thụ. Cách làm này hạn chế khả năng liên kết với khu vực tư nhân và khiến chuỗi cung ứng trong nước khó mở rộng về chiều sâu.
Quyền tự chủ trong đầu tư cũng là vấn đề được đề cập. Các dự án quan trọng vẫn phải trải qua nhiều lớp phê duyệt, khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian chờ đợi, thậm chí bỏ lỡ thời điểm thị trường thuận lợi. Trong khi đó, quy trình đầu tư bằng vốn nhà nước còn phức tạp, khiến việc triển khai các dự án mới gặp nhiều vướng mắc.
Không phải tất cả các doanh nghiệp đều duy trì được hiệu quả ổn định. Bên cạnh những tập đoàn, tổng công ty tạo ra lợi nhuận cao, vẫn còn không ít doanh nghiệp thua lỗ kéo dài hoặc có số lỗ lũy kế lớn. Những tồn tại này chưa được xử lý dứt điểm, tạo sức ép lên năng lực tài chính chung của khu vực doanh nghiệp nhà nước.
Tốc độ đổi mới quản trị cũng chưa theo kịp yêu cầu. Việc ứng dụng các mô hình quản trị hiện đại, quản trị số hay các tiêu chuẩn quốc tế còn rất hạn chế. Điều này làm giảm khả năng cạnh tranh trong bối cảnh doanh nghiệp phải đối mặt với những thay đổi nhanh chóng về công nghệ và xu hướng tiêu dùng.
Tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn diễn ra chậm hơn so với kế hoạch. Nhiều doanh nghiệp kéo dài quá trình quyết toán sau cổ phần hóa, dẫn tới ách tắc trong tái cơ cấu. Việc chậm chuyển đổi mô hình sở hữu không chỉ làm giảm nguồn lực đầu tư mà còn ảnh hưởng đến khả năng cải thiện hiệu quả hoạt động.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh mục tiêu đặt ra trong giai đoạn tới là trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030; trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045; duy trì tốc độ tăng trưởng “2 con số” trong giai đoạn 2026 – 2030… đòi hỏi phải có những cải cách và biện pháp thúc đẩy tăng trưởng đột phá đối với doanh nghiệp nhà nước. Cơ cấu lại khu vực này theo hướng tinh gọn, hiệu quả để doanh nghiệp nhà nước thực sự phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt trong các ngành lĩnh vực then chốt, thiết yếu của nền kinh tế.
Ông Chử Đức Hoàng, Chánh văn phòng Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), nhấn mạnh đổi mới công nghệ là điều kiện sống còn của doanh nghiệp nhà nước trong kỷ nguyên số. Doanh nghiệp nhà nước cần chủ động dẫn dắt sự nghiệp phát triển khoa học và công nghệ, góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Để nâng cao năng lực cạnh, hoàn thành sứ mệnh lớn lao của mình, ông Đặng Huy Đông, Chủ tịch Viện Quy hoạch và Phát triển, cho rằng doanh nghiệp nhà nước cần một môi trường kinh doanh lành mạnh, khung khổ pháp lý minh bạch, dễ làm, dễ hiểu, không rủi ro công vụ.
Doanh nghiệp nhà nước phải được hoạt động theo cơ chế thị trường, lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu; tự chủ, tự chịu trách nhiệm; cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác theo quy định của pháp luật.
Cùng với đó, doanh nghiệp nhà nước cần tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu, lĩnh vực đóng vai trò dẫn dắt, tạo động lực phát triển nhanh cho các ngành, lĩnh vực khác và nền kinh tế.
Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn sớm hình thành Trung tâm Nghiên cứu – Phát triển và Chuyển đổi kép (số và xanh) phục vụ việc nâng cao năng lực khoa học – công nghệ, đổi mới – sáng tạo và sức cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp.